Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

“Trốn nhà” vào rừng làm trang trại, thu nhập hơn 10 tỷ đồng/năm

Ở cái tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày ông Lý Văn Tiệp (70 tuổi) ở xóm Bậu 2, xã Văn Yên, huyện Đại Từ (Thái Nguyên) vẫn mải mê chăm sóc từng con lợn, con gà, rừng cây... Để có thu nhập hơn 10 tỷ đồng/năm như hiện nay, ông Tiệp đã phải đánh đổi biết bao mồ hôi, xương máu...
Ngủ rừng thu phục “quặng tặc”
Để vào được trang trại của ông Tiệp nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo, chúng tôi phải vượt qua nhiều đoạn đường đồi dốc lắt léo. Mặc dù tuổi cao, tóc đã điểm bạc, nhưng ông Tiệp vẫn leo dốc thoăn thoắt như không biết mệt. Ông Tiệp bảo: “Ở vùng đất dữ này, mình không khỏe, kiên cường thì khó có thể bám trụ được chứ nói gì đến làm giàu”.
Ông Lý Văn Tiệp đang kiểm tra các thùng ong tại trang trại của gia đình.
Vừa đi, ông Tiệp vừa kể, năm 1966, ông tham gia thanh niên xung phong. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, ông bị thương nặng, may nhờ người dân che giấu nên mới thoát chết. Năm 1976, ông xuất ngũ trở về quê hương với tỷ lệ thương tật gần 20%. Chưa hết, chất độc da cam trên người ông còn để lại di chứng cho đứa con trai thứ 2. “Đau xót lắm, từ khi cháu ra ở riêng, gia đình tôi đã dồn mọi nguồn lực kinh tế cho nó nhưng cũng không ăn thua, làm đâu mất đấy, mỗi trận ốm là lại sạt nghiệp” – ông Tiệp ngậm ngùi tâm sự.
Cùng ông leo lên đồi thăm trang trại, chúng tôi phần nào hiểu được những gian nan, vất vả mà người cựu chiến binh này đã phải nỗ lực vượt qua. Khắp chân núi, những vạt đất lổm ngổm đá sỏi giờ đã được ông Tiệp phủ xanh bởi bưởi Diễn, nhãn, xoài, dưới tán cây là những đàn gà đang tung tăng chạy nhảy.
Nhớ cái thời mới xuất ngũ về quê, ông Tiệp được lãnh đạo địa phương giao giữ nhiều chức vụ từ công an xã đến Chủ nhiệm HTX, công việc vất vả, phải đi nhiều, trong khi đồng lương phụ cấp lại ít ỏi, không đủ nuôi gia đình. “Lúc đó ban ngày tôi đi làm công, tối vào thung lũng phát dãy, khai hoang để trồng cây. Có lần vết thương cũ tái phát, cộng với ăn uống kham khổ, tôi kiệt sức gục xuống, chỉ còn biết vơ lá cây đắp lên người, bới rễ cây mà ăn. Người nhà phải vào tìm khiêng về mới thoát chết” – ông Tiệp nhớ lại.
Dù vất vả là vậy, nhưng mỗi khi khỏe lại, ông Tiệp lại “trốn nhà” vào rừng làm tiếp, mặc người thân, hàng xóm ra sức can ngăn. Xoa tay vào vết thương dưới bụng, ông Tiệp bảo: “Lúc gian khổ chỉ nghĩ mình là lính, thời chiến tranh khốc liệt là thế còn vượt qua được, huống gì thời bình. Có sức khỏe sao không làm nổi hạt gạo, củ sắn để nuôi bản thân và vợ con? Mỗi lần nghĩ thế, tôi lại thấy mình mạnh mẽ lên rất nhiều...”.
Năm 1978, thấy đời sống người dân trong xóm quá khó khăn, sống kham khổ trong bóng tối nên ông Tiệp đã mày mò chế tạo tua bin lắp vào cống xả tại hồ chứa nước trong xã để phát điện. “Tôi phải đi nhiều nơi như Hòa Bình, Sơn La để thăm quan các công trình thủy điện nhỏ, sau đó về dựa vào đặc thù của địa phương để làm máy phát điện. Sau nhiều lần thất bại, đến năm 1979 tôi đã hoàn thành lắp đặt và cung cấp điện cho hàng trăm hộ dân trong xã. Mãi tới năm 2000, điện lưới quốc gia về địa phương tôi mới thu máy, giao cho nhà nước” – ông Tiệp kể.
Nói về trang trại, ông Tiệp cho biết đến năm 2004, ông đã tạo dựng được cơ ngơi hơn 6ha, với trại nuôi gà, lợn, dê, bò hàng nghìn con, thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm. “Hồi trang trại bắt đầu có thu hoạch, tôi bị bọn đầu gấu, giang hồ trên mỏ quặng về phá, cướp sạch. Chúng cướp cả đàn bò, dê, rồi khu rừng tôi nhận trông coi cũng bị chúng chặt phá để đào quặng. Từng trải qua huấn luyện, chiến đấu nên tôi chẳng ngại gì. Tôi đã nhiều lần mật phục, giao đấu tay đôi với “quặng tặc” để giữ rừng” – ông Tiệp kể.
Nhớ nhất là mùa đông năm 1998, ông và 3 thành viên trong gia đình “chiến đấu” với nhóm “quặng tặc” do tay giang hồ khét tiếng ở địa phương là Trần Văn Huyến cầm đầu. “Trận đó ác liệt, không kém gì một trận giáp lá cà trên chiến trường. Cuối cùng tôi và các con đã đuổi bọn chúng chạy về tận nhà, bắt kẻ cầm đầu phải quy phục. Sau đó tôi nhiều lần đến nhà vận động, tuyên truyền Huyến bỏ nghề “quặng tặc” và hứa sẽ tạo công ăn việc làm. Năm 2002, Huyến đã vào làm cho trang trại của tôi và giờ mới xin nghỉ” – ông Tiệp cho hay.
Ông Lý Văn Tiệp đang đổ cám cho đàn gà giống ăn.
“Đại gia” ẩn mình
Từ hai bàn tay trắng, sau hơn 10 năm cần cù lao động, đến nay ông Tiệp đã có 200 lợn nái, 50 con bò, gần 100 dê bách thảo, 4.000 con gà và thường xuyên nuôi trên dưới 2.000 con lợn thịt. Để tận dụng dòng suối bên sườn núi, ông còn xây ao nuôi cá kiên cố, mỗi năm thu được hơn 18 tấn cá thương phẩm. “Giờ làm chơi tôi cũng có doanh thu trên dưới 10 tỷ đồng/năm” – ông Tiệp khoe.
Mặc dù nuôi nhiều gà lợn, nhưng trang trại của ông Tiệp không hề có mùi hôi thối nhờ hệ thống hầm biogas xây dựng hợp lý. Nhiều năm nay, gia đình ông không phải mất xu nào để mua gas hay củi đốt nhờ có nguồn khí dồi dào từ các hầm biogas. Vừa thăm chuồng, ông Tiệp nhanh tay túm lấy một chú lợn con để kiểm tra sức khỏe. Ông Tiệp cho hay: “Tôi thành công được cũng là nhờ chăn nuôi khép kín, từ con giống đến thức ăn, nhất là thú y tôi cũng tự làm được nên chưa khi nào trang trại bị nhiễm dịch bệnh”.
Dù trang trại nằm tận trong chân núi xa xôi, nhưng mỗi khi lợn, gà, cá đến kỳ xuất bán, ông Tiệp chỉ cần nhấc điện thoại gọi là có khách vào tận nhà mua. Bao nhiêu năm gắn bó, sống chết với rừng, đến giờ có của ăn, của để, ông Tiệp vẫn không hề muốn nghỉ ngơi mà tiếp tục nhận trông coi, bảo vệ hơn 40ha rừng trồng thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Ngoài làm ăn giỏi, ông Tiệp còn sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ công nhân của mình bằng cách bán trả chậm con giống, cám, chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi... để họ vừa yên tâm làm công cho ông, vừa có thêm thu nhập tại nhà. Nhờ thế mà đến giờ, hàng chục công nhân trước đây là hộ nghèo, giờ đã có thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu đồng/năm.
Nhờ những thành tích xuất sắc trong chăn nuôi, trồng trọt, nhiều năm qua ông Lý Văn Tiệp luôn được bầu chọn là nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh. Năm 2010, ông Tiệp nhận được Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Tháng 8.2015, ông lại vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
(dân việt)

Xác định giới tính gia cầm,một nghề nhàn hạ mà “hái ra tiền” đã đến Việt Nam

Hẳn nhiều người sẽ phải há hốc miệng ngạc nhiên vì không ngờ công việc kỳ lạ này có thể giúp “hái ra tiền” đều đặn.
Nghề “hái ra tiền”, “khát” người làm
Đó là nghề phân loại giới tính gà. Nghe có vẻ lạ, nhưng người làm nghề này ở nhiều nước như Anh, Pháp, Trung Quốc… và ở cả Việt Nam đều có mức thu nhập cao ngất ngưởng
Phân loại giới tính gà là công việc được trả lương rất cao.
Có nhiều phương pháp để xác định giới tính gà như thông qua lông cánh, thông qua màu lông trên lưng gà, xác định giới tính qua lỗ huyệt… Trong đó, phương pháp cho kết quả chính xác nhất và được nhiều nước áp dụng là xác định giới tính gà qua lỗ huyệt.
Phương pháp này được sáng tạo vào năm 1933 bởi người Nhật Bản. Phát minh này đã làm chấn động ngành công nghiệp gia cầm ở Nhật và đưa xứ sở này trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về chăn nuôi.
Ngay sau đó, các nhà nhân giống gia cầm phương Tây đã thuê những người được đào tạo ở Nhật Bản về làm hoặc cử người đại diện đến đất nước này để học tập
Ở nước Anh, mỗi năm, người lao động phân loại giới tính gà sẽ nhận mức lương là 40.000 bảng - tương đương 1,3 tỉ đồng.
nghe ky la, nhan ha ma “hai ra tien” da den viet nam hinh anh 2
Hiện nước Anh chỉ có khoảng 100-150 người làm công việc này (Ảnh: Incognito)
Còn ở Việt Nam, ông Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Chăn nuôi Việt Nam khẳng định, nghề phân loại giới tính gà cũng đã xuất hiện.
Nhưng hiện rất ít người biết đến nghề này, đặc biệt, rất hiếm người có thể chọn được gà bằng phương pháp nhìn qua lỗ huyệt. Chính vì thế, dù nhu cầu cao, mức thu nhập khá hậu hĩnh, nhưng hiện nghề này vẫn rất “khát” người làm.
“Muốn thành nghề, phải có chuyên gia đào tạo. Hơn nữa, có làm được hay không còn phụ thuộc vào khả năng của mỗi người. Hầu hết các trang trại, lò ấp ở Việt Nam đang thiếu người và phải thuê người chọn gà”, ông Trúc cho hay.
Ông Nguyễn Văn Ái, chủ một trang trại ở xã Hòa Tiến (huyện Yên Phong, Bắc Ninh) tiết lộ, mỗi tháng ông phải chi tới gần 30 triệu đồng để thuê người chọn giới tính gà.
“Tôi phải thuê người vì công việc này cũng khá khó khăn. Trang trại của tôi cung cấp gà theo nhu cầu của các đại lý. Có đại lý mua gà để đẻ trứng, có đại lý mua gà để thịt. Gà chọn ra sẽ có những phương pháp chăm sóc khác nhau để có mức lợi nhuận cao nhất”, ông Ái nói.
Phân loại gà qua lỗ huyệt có độ chính xác cao
PGS. TS Nguyễn Duy Hoan, Giám đốc Trung tâm Học liệu - nguyên Trưởng khoa  Khuyến nông và Phát triển Nông thôn (ĐH Thái Nguyên), người có hàng chục năm nghiên cứu về các phương pháp chọn giống gia cầm cho biết, phương pháp lựa chọn giới tính gà qua lỗ huyệt có tỉ lệ chính xác cao và hiện được nhiều lò ấp ở Việt Nam áp dụng.
nghe ky la, nhan ha ma “hai ra tien” da den viet nam hinh anh 3
Để phân loại được giới tính, yêu cầu trước tiên phải là gà mới nở sau vài giờ, chưa được cho ăn.
“Hiện nhiều trang trại dùng đũa thủy tinh gạt lỗ huyệt để phân loại giới tính. Đây là đũa chuyên dùng cho công việc này. Dùng đũa thủy tinh sẽ dễ xác định bộ phận sinh dục gà hơn”, ông Hoan nói.
Ông Hoan cũng cho biết, học phân loại giới tính gà không quá khó, nhưng với những người có năng khiếu làm sẽ nhanh hơn. Người thành thạo nghề trung bình mỗi giờ phân loại được từ 500 – 1.000 con gà. Những người không có kỹ năng sẽ làm chậm, làm gà chết nhiều và độ chính xác thường thấp.
Vị phó giáo sư này cũng cho hay, hiện có hai cách phổ biến để phân loại gà là xem trực tiếp qua lỗ huyệt và lai tạo theo đặc điểm giới tính.
Việc lai tạo gà theo đặc điểm giới tính là tận dụng những đặc trưng gắn liền với giới tính  gà. Lai tạo làm sao để gà trống và gà mái khác nhau một cách rõ rệt. Ví dụ, sau lai tạo có thể phân biệt gà qua màu lông ở lưng. Hoặc có một cách phố biến là dựa vào tốc độ phát triển của lông cánh. Thông thường, lông cánh của gà mái sẽ mọc nhanh hơn gà trống. Trong vòng 24 giờ đồng hồ, lông ống ở cánh gà mái sẽ dài, so le. Còn gà trống mọc chậm, ngắn và đều.
“Phương pháp xác định giới tình gà trực tiếp qua lỗ huyệt có độ chính xác cao, lên đến 98% và áp dụng được cho tất cả các loại gà. Thông thường, học viên phải tham dự các khóa huấn luyện và thực hành nhiều lần mới thành thạo được”, ông Hoan cho biết.
Hiện không ít nông dân Việt Nam đã trở nên giàu có nhờ công việc chọn giới tính gà. Chị Nguyễn Thị Dung (SN 1986, ở xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội) là một trong những người đó. Dù chỉ phân loại gà quay vòng tại một số trang trại ở tỉnh Bắc Ninh, huyện Hoài Đức, huyện Đông Anh (Hà Nội), chị Dung vẫn có thể kiếm từ 50 đến 90 triệu đồng mỗi tháng.
(dân việt)

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Cách kích thích heo nái sau cai sữa mau đi giống







     - Để heo mau đi giống Có thể tham khảo một số biện pháp sau, những biện pháp này chỉ có tính chất tham khảo , sắc xuất đi giống là 50% với heo nái đi lần đầu và 70% với heo nái sau cai sữa :
(1) Khống chế khẩu phần thức ăn:
- Trước ngày cai sữa 2 - 3 ngày: giảm lượng thức ăn cho heo mẹ, cho ăn khoảng 50 - 70% khẩu phần bình thường.
- Ngày cai sữa: không cho nái ăn, cho uống nước tự do để phòng viêm vú (sốt sữa).
- Ngày thứ 2 sau cai sữa: cho ăn 1/3 khẩu phần bình thường.
- Ngày thứ 3 sau cai sữa: cho ăn 1/2 khẩu phần bình thường.
- Ngày thứ 4 sau cai sữa: cho ăn 2/3 khẩu phần bình thường.
- Ngày thứ 5 sau cai sữa: cho ăn uống bình thường.
(2) Dùng heo đực thí tình: có thể cho heo đực gián tiếp đi qua chuồng hoặc cho tiếp xúc trực tiếp. Chỉ sử dụng heo đực trưởng thành do chất Pheromon – 1 loại hormon của bộ máy sinh dục đực ở giai đoạn trưởng thành tiết ra nhiều hơn ở đực tơ và chính mùi của hormon này sẽ tác động, kích thích heo nái lên giống sớm.
(3) Bổ sung vitamin AD3E (Trivitase) 2cc/con hoặc trộn Active plus (vitamin + khoáng chất) trong khẩu phần ăn của heo nái trước khi cai sữa hoặc ngày đầu cai sữa để giúp nái cai sữa động dục sớm, trứng rụng nhiều cho lứa đẻ sau nhiều con.
Lưu ý: Không nên cho những nái quá ốm yếu giao phối ngay lần động dục đầu tiên sau cai sữa vì khó đậu thai và số lượng con đẻ ra ít.
Tổng hợp  

Kỹ thuật phát hiện lợn nái động dục và phối giống

Đối với tất cả các giống lợn, không bao giờ cho phối giống ngay ở lần động dục đầu tiên, vì cơ thể lợn phát triển chưa hoàn thiện, số trứng rụng trong lần động dục đầu tiên ít... nếu phối giống thì số con đẻ ra sẽ ít.
Thụ tinh nhân tạo cho lợn
1. Chu kỳ động dục 
1.1. Tuổi động dục lần đầu ở lợn cái hậu bị
Các giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Các giống lợn nội như lợn Móng Cái động dục lần đầu ở 4 - 5 tháng tuổi, khối lượng 30 - 40 kg.
Các giống lợn lai ngoại với nội có tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần. Lợn cái lai ngoại với nội như F1 (Yorkshire x Móng Cái) và F1 (Landrace x Móng Cái) có tuổi động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi, khối lượng 70 - 75kg.
Các giống lợn ngoại có tuổi động dục lần đầu thường là 6-7 tháng, khối lượng 100 – 110 kg.
1.2. Chu kỳ động dục ở lợn nái
Chu kỳ động dục ở lợn nái thường là 21 ngày (dao động từ 17 - 23 ngày). Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày.
Lợn nái sau khi cai sữa khoảng 4 - 6 ngày sẽ động dục trở lại.
2. Kỹ thuật phát hiện lợn nái động dục
Phát hiện lợn nái động dục là việc quan trọng nhất trong công tác phối giống.
Cần kiểm tra lợn nái mỗi ngày ít nhất 2 lần, mỗi lần cách nhau 12 giờ. Nên kiểm tra động dục vào lúc 5 - 6 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều là thời điểm lợn thường có biểu hiện triệu chứng động dục rõ rệt nhất.
Để phát hiện chính xác thời điểm lợn nái động dục, cần nắm vững chu kỳ động dục và quan sát kỹ các biểu hiện của lợn nái.
Biểu hiện động dục ở lợn nái:
Ngày động dục thứ nhất
Lợn nái đi lại, kêu rít, muốn nhảy ra khỏi chuồng; kém ăn hoặc bỏ ăn, phá máng; nếu có người sờ mó thì né tránh hoặc bỏ chạy. Âm hộ sưng mọng, đỏ hồng, căng bóng. Nước nhờn chảy ra ngoài âm hộ lỏng, trong và chưa keo dính.
Ngày động dục thứ hai
Buổi sáng, lợn nái ở trạng thái yên tĩnh hơn, ít kêu rít, thỉnh thoảng nhảy lên lưng con khác, nhưng chưa chịu đứng yên khi lợn khác nhảy lên lưng.
Đến chiều, âm hộ bớt sưng, chuyển sang màu hồng nhạt, có vết nhăn mờ. Nước nhờn đã chuyển sang trạng thái keo dính. Để xác định lợn chịu đực (mê ì): dùng hai tay xoa vuốt từ hàng vú cuối cùng lên lưng của lợn sau đó ấn lên lưng của lợn (nếu có mặt lợn đực thì càng tốt), khi lợn đứng ì, hai tai vểnh lên, tư thế sẵn sàng cho lợn đực phối. Vào thời điểm này, cho phối giống hoặc dẫn tinh là đạt kết quả tốt nhất.
Ngày động dục thứ ba
Trạng thái mê ì giảm dần, càng về cuối ngày lợn càng không thích gần lợn đực nữa. Âm hộ teo dần trở về bình thường, nước nhờn chảy ra ít, màu trắng đục, không dính.
Đuôi úp che âm hộ.
3. Kỹ thuật phối giống
3.1. Phối giống lần đầu (phối giống cho lợn cái hậu bị)
Điều kiện cần và đủ để phối giống cho lợn cái hậu bị là lợn phải đạt đủ tháng tuổi và khối lượng cần thiết.
Tuổi phối giống lần đầu đối với lợn cái giống nội là 7 - 7,5 tháng tuổi và giống lai (ngoại x nội) và giống ngoại là 7,5 - 8 tháng tuổi. Khối lượng phù hợp khi phối giống: Lợn Móng Cái là 50 - 55 kg, lợn lai (Yorkshire/Landrace x Móng Cái) là 75 - 85 kg, lợn ngoại là 110 – 130 kg.
Đối với tất cả các giống lợn, không bao giờ cho phối giống ngay ở lần động dục đầu tiên, vì cơ thể lợn phát triển chưa hoàn thiện, số trứng rụng trong lần động dục đầu tiên ít... nếu phối giống thì số con đẻ ra sẽ ít. Nên phối giống khi lợn cái hậu bị đã qua 2 hoặc 3 chu kỳ động dục.
Cần xác định chính xác thời điểm mê ì ở lợn cái hậu bị để cho phối giống ngay. Sau đó cho phối lại lần thứ 2 cách lần phối đầu khoảng 12 giờ.
Cần phải ghi lại ngày phối giống để dự đoán được ngày lợn đẻ.
3.2. Phối giống cho lợn nái rạ (lợn đã đẻ từ lứa 2 trở đi)
Lợn mẹ sau cai sữa khoảng 4 - 6 ngày sẽ có hiện tượng động dục trở lại. Cần theo dõi, quan sát kỹ và xác định chính xác thời điểm mê ì ở lợn để chuẩn bị phối giống.
Khi phát hiện trạng thái mê ì ở lợn nái, chưa phối giống ngay như ở lợn cái hậu bị, mà phối giống lần 1 trong vòng 10 - 12 giờ kể từ khi phát hiện lợn mê ì.
Để lợn nái đẻ sai con nên phối lặp lại lần 2 khoảng 10 -12 giờ sau lần phối thứ nhất.
Cần phải ghi chép ngày phối giống để dự đoán được ngày lợn đẻ.
Phối giống trực tiếp
Ưu điểm: Dễ thực hiện, không cần đầu tư trang thiết bị phối giống.
Nhược điểm: Tốn công để vận chuyển lợn đực, khả năng lây bệnh trực tiếp từ lợn đực sang lợn nái cao, không phối được cho nhiều lợn nái cùng một lúc, không dùng được đực giống tốt vì chênh lệch quá lớn về khối lượng giữa lợn đực và lợn cái.
Thụ tinh nhân tạo
Ưu điểm: Lợn nái sẽ nhận được tinh dịch của các con đực giống tốt đã qua chọn lọc, không phải vận chuyển lợn đực, không bị hạn chế về chênh lệch tầm vóc lợn, một lần khai thác tinh có thể dùng để phối cho nhiều lợn nái. 
Nhược điểm: Cần có người đã qua đào tạo kỹ thuật và trang thiết bị phục vụ việc phối giống.
Lưu ý: Lợn đực lấy tinh nhân tạo cần phải khoẻ mạnh và đã qua kiểm tra chất lượng tinh.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
Tinh dịch cần phải được bảo quản tốt ở nơi mát (khoảng 20 độ C), tránh tác động của ánh sáng, tránh xóc hoặc lắc mạnh lọ tinh. Lọ tinh không dập nứt, không sủi bọt. Các bước thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo như sau:
Chuẩn bị dụng cụ dẫn tinh, bao gồm: Dụng cụ (lọ, túi) đựng tinh dịch, dẫn tinh quản và bộ phận tạo áp lực đẩy tinh dịch (quả cầu bơm hoặc xi-lanh). Luộc sạch các dụng cụ dẫn tinh trong nước sôi 15 phút, vẩy ráo nước, để nguội.
Vệ sinh vùng âm hộ lợn, vuốt nhẹ vào lưng cho lợn nái đứng yên. Bôi vaseline vào dẫn tinh quản và cửa âm hộ lợn nái.
Làm ấm tinh dịch lên 35 - 37 độ C bằng cách nắm lọ tinh trong lòng bàn tay một lúc



Kỹ thuật thụ tinh tử cung
Gãi, ấn nhẹ vùng mông hoặc kích thích âm hộ lợn nái để lợn đứng yên. Nhẹ nhàng đưa đầu dẫn tinh quản vào âm hộ lợn nái, hơi chếch lên phía trên, vừa đưa vào âm đạo vừa lắc nhẹ, đồng thời ngồi ngược nhẹ lên lưng lợn hoặc dùng 1 bàn chân đè nhẹ lên lưng lợn để gây cảm giác giống như có lợn đực đang đè lên lưng; đưa dần tinh quản vào đến khi có cảm giác bị cản lại (vào đến cổ tử cung) rồi kéo lùi lại một chút; vừa đưa vừa xoay nhẹ dẫn tinh quản, lắp ống bơm hoặc lọ tinh bằng nhựa và từ từ bơm tinh dịch. Nếu dùng lọ nhựa thì bóp nhẹ lọ tinh, để lợn nái tự hút tinh vào là tốt nhất. Nếu dùng dẫn tinh quản đầu xoắn lúc đưa vào phải xoay dần theo chiều ngược kim đồng hồ, lúc rút ra xoay theo chiều cùng kim đồng hồ. Thời gian phối tinh trong khoảng 05 - 10 phút.
Sau khi dẫn tinh dịch xong, vẫn ngồi hoặc đè chân lên lưng lợn nái thêm 3-5 phút để tinh dịch chảy hết vào trong rồi từ từ rút dẫn tinh quản ra ngoài.
Sau khi dẫn tinh xong, dùng xà phòng rửa sạch dụng cụ dẫn tinh.
Kỹ thuật mới trong thụ tinh nhân tạo:
Kỹ thuật thụ tinh 2 pha: cung cấp 30 ml tiền chất trước khi bơm tinh
Thụ tinh sâu (thụ tinh tử cung): sử dụng dẫn tinh quản đặc biệt luồn qua cổ tử cung để bơm tinh vào tử cung. 
TS. Nguyễn Thị Liên Hương

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Quan sát mầu nước để đánh giá chất lượng dinh dưỡng trong ao nuôi.

Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng.

Tảo trong ao phát triển quá mức
Có thể nói chưa bao giờ nuôi trồng thủy sản lại chứng tỏ được giá trị và tiềm năng to lớn về kinh tế trong nền nông nghiệp Việt Nam như hiện nay.
Với bất cứ quy mô nào, từ nuôi thâm canh với hình thức trang trại hay xen canh, quảng canh với hình thức hộ gia đình thì nuôi thủy sản vẫn mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với trồng lúa trên cùng một diện tích. Điều này hoàn toàn đúng với câu nói “muốn giàu nuôi cá” được ông cha ta truyền miệng từ bao đời nay.
Tuy nhiên, lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro cao, đặc biệt là trong hoàn cảnh nghề nuôi thủy sản của nước ta chưa thật sự đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại. Các hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính.
Việc đầu tư để mua sắm các trang thiết bị như các bộ kit kiểm tra môi trường hay kính hiển vi được một số người nuôi xem như là một khoản chi phí không cần thiết. Chất lượng nước sẽ được đánh giá chủ yếu bằng cách quan sát màu nước trong ao nuôi, đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện.
Tuy nhiên, nếu không có kiến thức đầy đủ về màu nước trong ao nuôi thủy sản, người nuôi cũng sẽ dễ bị nhầm lẫn và đánh giá không đúng về hiện trạng chất lượng nước.
Trên thực tế, nước trong ao nuôi thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay do sự phát triển của tảo. Có thể chia màu nước là 2 dạng, màu thực và màu giả. Màu thực của nước là màu do các hợp chất hòa tan trong nước gây ra, màu giả là màu của các hợp chất không hòa tan. Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng. Trong ao nuôi thường có các màu sau:
+ Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non): Màu xanh nhạt do sự phát triển của tảo lục (chlorophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt hoặc nước lợ nhạt (dưới 10 phần nghìn).
Đây cũng là màu nước thích hợp nhất để nuôi thủy sản, tảo lục ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ thông qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao. Người nuôi nên cố gắng duy trì màu nước xanh nhạt, như vậy các loài thủy sản sẽ phát triển tốt hơn.
+ Nước màu xanh đậm (xanh rêu): Nước có màu xanh đậm là do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta), loài tảo này phát triển mạnh cả trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn.
Nếu nước trong ao nuôi có màu này thì cần có biện pháp làm giảm lượng tảo, vì đây là loại tảo không tốt cho các loài thủy sản. Hơn nữa, nếu tảo lam phát triển quá mức có thể tiết ra chất độc làm chết cá. Bên cạnh đó, còn có thể gây thiếu oxy về đêm do tảo hô hấp quá mức.
+ Màu vàng nâu (màu nước trà): Nước có màu vàng nâu do sự phát triển của tảo silic (Bacillariophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh ở môi trường nước lợ, mặn vào đầu vụ nuôi. Đây là màu nước thích hợp nhất để nuôi các loài thủy sản nước lợ, mặn.
+ Màu vàng cam (màu gỉ sắt): Màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới đào trên vùng đất phèn. Màu cam là do đất phèn tiềm tàng (FeS2) bị oxy hóa tạo thành các váng sắt.
Đối với ao có màu nước vàng cam cần có biện pháp khử phèn trước khi thả nuôi, có thể sử dụng vôi nông nghiệp hay bơm, xả nước nhiều lần để rửa trôi lượng phèn trong ao. Đối với các ao đang nuôi thì cần rải thêm vôi trên bờ ao để tránh hiện tượng pH giảm đột ngột khi trời mưa.
+ Màu đỏ gạch (màu đất đỏ): Nước có nhiều phù sa do đất cát bị xói mòn từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu. Trong ao nuôi thủy sản ít khi có màu nước như vậy, tuy nhiên vùng ĐBSCL hay gặp nước đỏ gạch trên các con kênh, sông khi chuẩn bị sắp có lũ về.
Người nuôi cần lưu ý không nên cấp nước vào ao lúc này, vì lượng phù sa nhiều sẽ làm tôm, cá khó hô hấp và giảm khả năng bắt mồi. Tốt nhất là nên cấp nước vào ao lắng trước khi cung cấp cho các ao đang nuôi.
+ Màu nâu đen: Nước có màu nâu đen do trong nước có chứa nhiều vật chất hữu cơ. Màu nước này thường thấy ở các ao nuôi có hệ thống cấp, thoát nước không tốt, trong quá trình nuôi không quản lý tốt môi trường, cho ăn dư thừa nhiều sẽ dể làm nước ao nuôi có màu nâu đen. Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp, vì vậy cần có biện pháp xử lý ngay.
Có thể thay nước nhiều lần đến khi hết màu nâu đen, hoặc kết hợp sử dụng thêm các loại chế phẩm sinh học, hóa chất có thể hấp thu khí độc. Bên cạnh đó, nếu thấy tôm, cá có hiện tượng thiếu oxy cần sử dụng quạt đảo nước hoặc các loại hóa chất cung cấp oxy tức thời, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.
Quan sát màu nước trong ao nuôi là phương pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao. Nếu người nuôi có đầy đủ kiến thức về các loại màu nước sẽ có thể đánh giá chính xác được hiện trạng chất lượng nước.
Thông qua đó sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm, cá sinh trưởng và phát triển. Có như vậy, chi phí đầu vào sẽ giảm thấp, lợi nhuận từ việc nuôi thủy sản cũng sẽ tăng lên đáng kể.
(Theo trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận)

Nhận biết và phòng trừ sâu bệnh trên cây có múi


1Sâu hại

* Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

 Phá hoại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3-4 năm đầu mới trồng. Trên cây lớn thường phá hoại vào thời kỳ lộc non, nhất là đợt lộc Xuân.
 Dù ở thời kỳ nào của cây cam quýt, sâu chỉ đẻ trứng và phá trên các búp non. Sâu non nở ra ăn các lớp biểu bì trên lá, tạo thành các lớp ngoằn ngèo có phủ sáp trắng, lá xoăn lại cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm, mạnh nhất từ tháng 2 -   10.
Phun thuốc phòng 1 - 2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non là hiệu quả nhất (lúc lá non dài 1 - 2 cm). Dùng thuốc Decis pha nồng độ 2/1000 (20cc pha trong 10 lít nước) hoặc Trebon pha nồng độ 2/1000, Sherpa 1,5% để phòng.
 Khi xuất hiện sâu trừ diệt bằng 1 hoặc 2 loại thuốc trên nhưng cần pha thêm thuốc Padan trộn với 3 - 5 ml dầu Madut, dùng que hoặc thìa đánh cho thuốc tan đều trong dầu, sau đó pha vào thuốc Decis hoặc Trebon đã pha với nồng độ 1/1000 hoặc 1,5/1000. Phun ướt hết mặt lá.

* Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori)

Xuất hiện từ tháng 5 - 8 - 9.
Biện pháp phòng trị:
- Bắt sâu trưởng thành  ( xén tóc)
 - Dùng gai mây hoặc dây thép luồn vào lỗ đục để bắt sâu non. Dùng thuốc Supracide hoặc Ofatox nồng độ 1 - 1,5/1000 bơm vào lỗ đục của cây sau đó dùng đất sét bịt miệng lỗ lại. Kết hợp phun các loại thuốc trên lên cây để diệt trứng. Chú ý: sâu đục thân, đục cành thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng11, 12, người ta thường dùng vôi quét vào gốc cây sẽ có tác dụng: một là lấp những kẽ nứt ở vỏ làm cho sâu không có chỗ đẻ trứng, hai là nếu sâu đã đẻ trứng thì vôi sẽ làm cho trứng bị ung không nở thành sâu non để phá hại được.

* Nhện đỏ (Panonychus citri)

Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ Đông Xuân.
Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn  lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. Những cây bưởi hoặc vườn cam quýt gần với nương chè thường hay có nhện đỏ phá hoại.

* Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus):

Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.
Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc  Kenthane, Danitol,   Ortus, Pegasus. . . pha nồng độ 1 - 2/1000 phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun liên tục 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày bằng những  thuốc mới như: Nissorun, Comite, hoặc dầu khoáng trừ sâu.

* Rệp cam

Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.
* Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp  bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.
 Dùng Sherpa hoặc Trebon pha với nông độ 1 - 2/1000 (10 - 20ml pha trong 10 lít nước) phun 1 đến 2 lần ở thời kì lá non.
Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

2. Bệnh hại.


* Bệnh loét cam quýt (Xanthomonas campestris) và bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Bệnhgây hại chủ yếu ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 - 3 năm.
Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh màu nâu, có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết.
 Trị bệnh loét, sẹo bằng cách phun Boocđo 1 - 2 /100 hoặc thuốc Kasuran 0,2%, Mancozeb 0,2%, Benlat-C 0,1%, Oxyclorua Đồng 70g/bình 10lít.
Cách pha thuốc Boocđô (pha cho 1bình 10 lít):
- Nồng độ 1% thì dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,15 kg vôi đã tôi, nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi
- Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch Boocđô.

* Bệnh chảy gôm (Phytophthora citripthora)

 Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.
 Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.
 Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.
Cách phòng trị: dùng thuốc Boocđô 2% phun trên cây và đổ trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng Boocđô 1%.
 Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette, Benlat-C nồng độ 0,2 - 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

* Các bệnh do Virus và siêu vi khuẩn

 Các bệnh do Virus và siêu vi khuẩn không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv...
Bệnh virus phổ biến đối với cam quýt nói chung và bưởi nói riêng là bệnh Greening(bệnh vàng lá cam), bệnh Tristeza. Khi phát hiện cây bị bệnh, biện pháp tốt nhất là chặt bỏ để tránh lây lan sang cây khác.



Theo Website Hội Nông dân VN

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Phân N-P-K và những câu hỏi thường gặp

Hỏi: 
    Dinh dưỡng đạm (N) của cây và nhận biết triệu chứng thiếu hay thừa đạm của cây như thế nào?
Đáp: 
    Dinh dưỡng đạm của cây: cây hút thu đạm từ đất thông qua bộ 
rễ, chủ yếu hai dạng hòa tan trong dung dịch đất là NH4+ và N03-. Nếu cây hút N03- thì vào trong cơ thể cũng được chuyển hóa thành NH4+ để hình thành các axit amin. Ngoài ra một số cây có khả năng hút thu N từ khí trời như bèo dâu, các cây thuộc họ đậu. Đạm cũng có thể được cây hấp thu qua lá, nên phân bón lá cũng có hiệu quả và tiết kiệm được.
- Tích lũy nhiều ở thời kỳ cây non, ở phần non của cây nhiều hơn ở phần giá, phần hạt của cây, trong diệp lục.
- Có vai trò to lớn là tham gia trong thành phần của các axit amin (aminoaxit), protein..
* Khi dinh dưỡng thừa đạm, công sẽ bị yếu ớt, ngã đỗ. Màu lá cây xanh mướt, lá phát triển nhiều, hoa và quả kém, hạt không chắc, lếp nhiều. Khi bón quá nhiều đạm, cây có thể tích lũy nhiều ở dạng Nitơ rate trong các bộ phận, nhất là rau, không có lợi cho sức khỏe. Khi thừa đạm, không được bón thêm đạm mà cần bổ sung kali, lân để cân bằng dinh dưỡng trong cây.
    * Thiếu đạm ảnh hưởng đến hàm lượng và hình thành diệp lục từ đó ảnh hưởng đến quang hợp tạo nên hydrat cacbon để xây dựng cơ thể. Cây cằn cỗi, yếu ớt vàng nhạt, lá nhỏ và mỏng. Cây ra hoa sớm, ít hoa và hay bị chột hoa, rụng quả. 

Hỏi: 
    Triệu chứng cây thiếu lân như thế nào?
Đáp: 
    Lân là một nguyên tố dinh dưỡng quan trọng, sau nguyên tố nitơ. Khi thiếu lân cây biểu hiện triệu chứng khá rõ. Lá ngô khi thiếu lân có màu nâu, nâu tím đến mài tím bẩn. Màu nâu tím phát triển bắt đầu từ những là phía dưới rồi trở nên mềm yểu. Thùy lá bé và ít hơn ở cây bình thường.
    Cây lúa thiếu lân sẽ còi, lá lúa chuyển sang màu xanh đen bẩn. Lá nhỏ, hẹp và ngắn. Cây mảnh khảnh, sinh trưởng chậm lại. Số dảnh, số nhánh và hạt đều bị giảm.

Hỏi: 
    Triệu chứng cây thiếu kali như thế nào?
Đáp: 
    Sự thiếu hụt kali của cây thể hiện khá rõ ở lớp lá già. Mép lá chị cháy, quăn lại. Cháy từ trên đỉnh lá dọc theo 2 mép lá, lan rộng vào trong phiến lá, phần bị cháy tạo thành chữ V, phát triển từ ngọn lá vào trong.
    Cây sắn thiếu kali, cây gầy mảnh, lùn lại, cuống lá ngắn lại và lá nhỏ. Phần đỉnh và viền theo mép lá bị cháy quăn về phía sau mặt lá. Khi bón đầy đủ kali, cây có khả năng chống rét, chống hạn cao hơn. 
    Lúa thiếu kali cây có màu xanh đậm, mép lá nâu vàng nhạt. Có những dốm nâu xuất hiện trước tiên ở trên ngọn những lá giá trước, sau đó phát triển dọc theo viền lá, dần lan ra cả phiến lá. Những lá phần trên ngắn, rũ xuống và có màu xanh bẩn đậm. Khi đất thiếu kali nếu không cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng sẽ làm biến dạng bắp ngô theo những nét đặc trưng. 
    Khoai lang khi thiếu hụt kali, biểu hiện cây chậm lớn trước khi xuất hiện triệu chứng. Triệu chứng thiếu hụt kali xuất hiện viền lá phần dưới chuyển màu vàng bẩn, lan dần vào thịt lá. Phiến lá bị vàng úa từng vùng rũ xuống, dần bị cháy.

VT (Theo Hỏi – đáp đất, phân bón và cây trồng)