Hiển thị các bài đăng có nhãn KH-KT THỦY SẢN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KH-KT THỦY SẢN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Quan sát mầu nước để đánh giá chất lượng dinh dưỡng trong ao nuôi.

Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng.

Tảo trong ao phát triển quá mức
Có thể nói chưa bao giờ nuôi trồng thủy sản lại chứng tỏ được giá trị và tiềm năng to lớn về kinh tế trong nền nông nghiệp Việt Nam như hiện nay.
Với bất cứ quy mô nào, từ nuôi thâm canh với hình thức trang trại hay xen canh, quảng canh với hình thức hộ gia đình thì nuôi thủy sản vẫn mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với trồng lúa trên cùng một diện tích. Điều này hoàn toàn đúng với câu nói “muốn giàu nuôi cá” được ông cha ta truyền miệng từ bao đời nay.
Tuy nhiên, lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro cao, đặc biệt là trong hoàn cảnh nghề nuôi thủy sản của nước ta chưa thật sự đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại. Các hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính.
Việc đầu tư để mua sắm các trang thiết bị như các bộ kit kiểm tra môi trường hay kính hiển vi được một số người nuôi xem như là một khoản chi phí không cần thiết. Chất lượng nước sẽ được đánh giá chủ yếu bằng cách quan sát màu nước trong ao nuôi, đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện.
Tuy nhiên, nếu không có kiến thức đầy đủ về màu nước trong ao nuôi thủy sản, người nuôi cũng sẽ dễ bị nhầm lẫn và đánh giá không đúng về hiện trạng chất lượng nước.
Trên thực tế, nước trong ao nuôi thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay do sự phát triển của tảo. Có thể chia màu nước là 2 dạng, màu thực và màu giả. Màu thực của nước là màu do các hợp chất hòa tan trong nước gây ra, màu giả là màu của các hợp chất không hòa tan. Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng. Trong ao nuôi thường có các màu sau:
+ Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non): Màu xanh nhạt do sự phát triển của tảo lục (chlorophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt hoặc nước lợ nhạt (dưới 10 phần nghìn).
Đây cũng là màu nước thích hợp nhất để nuôi thủy sản, tảo lục ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ thông qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao. Người nuôi nên cố gắng duy trì màu nước xanh nhạt, như vậy các loài thủy sản sẽ phát triển tốt hơn.
+ Nước màu xanh đậm (xanh rêu): Nước có màu xanh đậm là do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta), loài tảo này phát triển mạnh cả trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn.
Nếu nước trong ao nuôi có màu này thì cần có biện pháp làm giảm lượng tảo, vì đây là loại tảo không tốt cho các loài thủy sản. Hơn nữa, nếu tảo lam phát triển quá mức có thể tiết ra chất độc làm chết cá. Bên cạnh đó, còn có thể gây thiếu oxy về đêm do tảo hô hấp quá mức.
+ Màu vàng nâu (màu nước trà): Nước có màu vàng nâu do sự phát triển của tảo silic (Bacillariophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh ở môi trường nước lợ, mặn vào đầu vụ nuôi. Đây là màu nước thích hợp nhất để nuôi các loài thủy sản nước lợ, mặn.
+ Màu vàng cam (màu gỉ sắt): Màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới đào trên vùng đất phèn. Màu cam là do đất phèn tiềm tàng (FeS2) bị oxy hóa tạo thành các váng sắt.
Đối với ao có màu nước vàng cam cần có biện pháp khử phèn trước khi thả nuôi, có thể sử dụng vôi nông nghiệp hay bơm, xả nước nhiều lần để rửa trôi lượng phèn trong ao. Đối với các ao đang nuôi thì cần rải thêm vôi trên bờ ao để tránh hiện tượng pH giảm đột ngột khi trời mưa.
+ Màu đỏ gạch (màu đất đỏ): Nước có nhiều phù sa do đất cát bị xói mòn từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu. Trong ao nuôi thủy sản ít khi có màu nước như vậy, tuy nhiên vùng ĐBSCL hay gặp nước đỏ gạch trên các con kênh, sông khi chuẩn bị sắp có lũ về.
Người nuôi cần lưu ý không nên cấp nước vào ao lúc này, vì lượng phù sa nhiều sẽ làm tôm, cá khó hô hấp và giảm khả năng bắt mồi. Tốt nhất là nên cấp nước vào ao lắng trước khi cung cấp cho các ao đang nuôi.
+ Màu nâu đen: Nước có màu nâu đen do trong nước có chứa nhiều vật chất hữu cơ. Màu nước này thường thấy ở các ao nuôi có hệ thống cấp, thoát nước không tốt, trong quá trình nuôi không quản lý tốt môi trường, cho ăn dư thừa nhiều sẽ dể làm nước ao nuôi có màu nâu đen. Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp, vì vậy cần có biện pháp xử lý ngay.
Có thể thay nước nhiều lần đến khi hết màu nâu đen, hoặc kết hợp sử dụng thêm các loại chế phẩm sinh học, hóa chất có thể hấp thu khí độc. Bên cạnh đó, nếu thấy tôm, cá có hiện tượng thiếu oxy cần sử dụng quạt đảo nước hoặc các loại hóa chất cung cấp oxy tức thời, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.
Quan sát màu nước trong ao nuôi là phương pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao. Nếu người nuôi có đầy đủ kiến thức về các loại màu nước sẽ có thể đánh giá chính xác được hiện trạng chất lượng nước.
Thông qua đó sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm, cá sinh trưởng và phát triển. Có như vậy, chi phí đầu vào sẽ giảm thấp, lợi nhuận từ việc nuôi thủy sản cũng sẽ tăng lên đáng kể.
(Theo trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Cá chép lai mang ba dòng máu

(Trang trại xanh Ngọc Linh)-Cá chép không chỉ đơn thuần là thực phẩm mà còn là vị thuốc quý bổ dưỡng cho sức khỏe, nên hiện nay, nhu cầu về cá chép trên thị trường khá cao.

Loài cá mang 3 dòng máu của 2 châu lục
Giống cá chép V1 là kết quả lai ghép 3 dòng (cá chép trắng Việt Nam, cá chép vảy Hungari với cá chép vàng Indonesia). Cá chép V1 tập hợp được những đặc điểm di truyền quý như chất lượng thịt thơm ngon, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt Nam; thân ngắn và cao cùng tốc độ tăng trưởng nhanh của cá chép Hungary; đẻ sớm và trứng ít dính của cá chép Indonesia.
Cá chép V1 sống ở tầng đáy, ăn tạp, thức ăn chủ yếu là nhuyễn thể cỡ nhỏ như trai, ốc, mùn bã hữu cơ… Nguồn thức ăn tự nhiên này trong ao bị cạn kiệt theo thời gian vì thế khi nuôi ghép với các loại cá khác trong ao phải bổ sung thêm thức ăn tự chế biến nếu không cá sẽ chậm lớn.
Dễ nuôi như cá lai
Cá chép V1 có khả năng chịu đựng tốt hơn so với cá trắm cỏ, rô phi, mè, trôi. Cá chép V1 có thể sống được ở ngưỡng ôxy hòa tan là 3mg/l nhưng không nên thả nuôi với mật độ cao. Mật độ thả nuôi vừa thường là 1-1,5 con/m2, ao nuôi cần có độ sâu từ 0,8-1,2m là tốt nhất, vì ao sâu hơn cá sẽ chậm lớn. Bờ ao nuôi cần được gia cố chắc chắn, tránh bị rò rỉ, mất nước, thậm chí là vỡ bờ gây thất thoát cá.
Trong giai đoạn đầu thả giống, người nuôi cần chú ý bón phân cho ao (phân chuồng + phân xanh, dùng 20-30kg/100m2) để gây màu nước kích thích các sinh vật trong ao phát triển làm gia tăng thức ăn tự nhiên cho cá. Thả cá giống có kích cỡ từ 4 - 6cm là tốt nhất, chọn cá không bị dị hình, cụt râu, rách đuôi, vây; cá khỏe mạnh bơi lội tốt và không bị ký sinh trùng bám như trùng mỏ neo, rận cá… Có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép với cá mè, cá trắm… để tận dụng diện tích và nguồn thức ăn. Hàng ngày, cho cá ăn 2 bữa với thức ăn chứa 60% cám gạo, 30% bột cá nhạt và 10% khô đỗ tương, khô dầu. Cho ăn vào sáng và lúc chiều mát. Nên cho thức ăn vào sàng đặt xung quanh ao để có thể kiểm soát lượng thức ăn.
Mùa vụ nuôi cá chép có thể bắt đầu từ tháng 2-3 hàng năm. Bên cạnh việc nuôi thương phẩm, người dân có thể cho cá chép V1 sinh sản tự nhiên trong ao để tạo nguồn giống, hoặc ương giống phục vụ cho các vùng nuôi.
(nguồn::thủy sản Việt Nam)

Kỹ thuật nuôi cá rô phi cho năng suất cao

1/ Yêu cầu kỹ thuật xây dựng ao nuôi
Diện tích ao nuôi từ vài trăm m2 đến 1 ha, thích hợp là từ 1.000 đến 5.000m2.
Ðộ sâu hợp lí từ 1,5 2m.
Ðộ dày bùn đáy 15 20cm.
Nguồn nước cấp cho ao phải chủ động, chất nước không nhiễm bẩn, không có chất độc, hàm lượng ôxy hòa tan 3mg/l, pH : 6,5 8.
Bờ ao phải chắc chắn, không cớm rợp, không bị rò rỉ, đáy ao nghiêng về cống thoát một góc 3-5o.
Hệ thống cấp thoát nước chủ động.2/ Chuẩn bị ao nuôi
Tiến hành tháo cạn nước, củng cố lại bờ ao, lấp chỗ rò rỉ, điều chỉnh lớp bùn đáy, tu bổ bờ và cống thoát.
Tiến hành tẩy trùng ao : Dùng vôi bột với liều lượng 7-15kg/100m2.
Tiến hành bón lót, gây màu :
+ Phân chuồng ủ kĩ với 2% vôi bột. Lượng bón : 30-50kg/100m2 ao, rải đều khắp đáy ao.
+ Phân xanh (lá mui, lá lạc, lá đậu tương, lá cây hoa trắng) : 30-50kg/100m2 ao, bó thành bó cho xuống ao, khi nào thấy lá rữa hết thì vớt các cọng cứng lên.
Tháo nước vào ao : Nước lấy vào ao phải được lọc kĩ qua lưới lọc.
+ Nước sau khi lấy vào ao ngâm từ 5-7 ngày rồi tiến hành thả cá.3/ Thả cá giống
Thời vụ thả giống :
+ Vụ xuân : tháng 2-3 (dương lịch).
+ Vụ thu : tháng 7-8 (dương lịch).
Ðối tượng cá giống thả : Cá rô phi đơn tính đực.
Tiêu chuẩn giống thả : Cá giống thả phải khỏe mạnh, không bị bệnh, không bị dị hình, vây vẩy nguyên vẹn, phát triển cân đối, không sây sát trước khi thả xuống ao.
Cỡ cá giống thả : Ðối với cá giống lưu của năm trước : cỡ 20 25g/con; đối với cá giống trong năm: cỡ 5-10g/con.
Phương pháp thả giống : Ðối với giống được vận chuyển bằng bao bơm ôxy : để nguyên cả bao cá thả xuống ao, quay đảo đều bao từ 5-10 phút, mở bao cho thêm nước vào rồi thả cá từ từ ra ao.
Mật độ thả : 2-3 con/m2.
4/ Chăm sóc quản lí
Bón phân gây màu (tạo thức ăn tự nhiên cho cá).
+ Phân chuồng ủ kĩ với 2 % vôi bột bón 20-30 kg/100m2/tuần.
+ Phân xanh : 20-25kg/100m2/tuần.
+ Phân vô cơ : Bón bổ sung có tác dụng gây màu nước nhanh, sử dụng khi ao chậm lên màu.
- Lượng : 0,4kg đạm + 0,2kg lân/100m2.
- Cách bón : Hòa tan đều phân vô cơ với nước sau đó tạt đều lên mặt ao, bón vào buổi sáng ngày có nắng.
Thức ăn tinh :
+ Bao gồm cám gạo, cám ngô, khoai, sắn, bột cá, bột đậu tương, bã đậu, phụ phẩm nông nghiệp....
+ Thức ăn tinh cần được nấu chín, đặc, trước khi cho cá ăn. Rải thức ăn vào sàn ăn hoặc những vùng đáy ao sạch. Nên cho ăn tập trung tại những vị trí cố định trong ao. Nếu không có điều kiện nấu chín dùng khoảng 15% bột mỳ làm chất kết dính, trộn đều, cho nước vừa ướt và nắm thành từng năm cho cá ăn.
Thức ăn xanh : các loại rau, bèo, cỏ, rong...
+ Ðể giảm bớt chi phí thức ăn chúng ta nên áp dụng mô hình nuôi cá trong hệ VAC, tận dụng chất thải của chuồng và phụ phẩm của vườn.
+ Khẩu phần thức ăn :
- Giai đoạn đầu cho ăn 5-7% trọng lượng thân cá.
- Giai đoạn sau (cá >100g/con) : cho ăn 2-4% trọng lượng thân cá.
- Thời gian cho ăn : sáng cho ăn vào lúc 7-8 giờ, chiều cho ăn vào lúc 15-16 giờ.
Quản lí ao nuôi :
+ Hằng tháng kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá để cung cấp thức ăn cho hợp lí
+ Ghi chép chi tiết các vấn đề có liên quan trong suốt quá trình nuôi.
+ Khi phát hiện cá bị bệnh hoặc các hiện tượng bất thường diễn ra của ao nuôi phải chữa trị kịp thời.
+ Duy trì mức nước ổn định trong suốt quá trình nuôi.
+ Theo dõi chặt chẽ màu nước ao trong quá trình nuôi để có kế hoạch bón phân hợp lí (nước ao có màu xanh nõn chuối hoặc vỏ hạt đậu xanh là được).
5/ Thu hoạch
+ Thu hoạch toàn bộ : thu bằng lưới trước khi tháo cạn.
+ Cá rô phi đơn tính nuôi sau 5 tháng có thể đạt trọng lượng 400-600 g/con, tỉ lệ sống đạt 70-80%, năng suất đạt 8-10 tấn/ha/vụ
(tổng hợp)

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Các bệnh thường gặp trên cá trắm cỏ

TNL-Cá trắm cỏ rất dễ nuôi,nhanh lớn lại giá trị,nhưng đa phần cá trắm cỏ thường bị bệnh khi được khoảng 0,5-1kg mà đa phần bà con không biết nguyên nhân và cách khắc phục .Sau đây là những bệnh chính mà cá trắm cỏ thường mức nhât để bà con tham khảo và biết các phòng tránh cũng như chữa trị.
Cá trắm cỏ bị bệnh

 1.PHÒNG TRỊ BỆNH VIÊM RUỘT VÀ XUẤT HUYẾT Ở CÁ TRẮM CỎ:  : Bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ thể hiện ở hai dạng đó là xuất huyết đốm đỏ do vi khuẩn và vi rút gây ra
Dấu hiệu bệnh
Dấu hiệu đầu tiên là cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt nước. Da cá thường bị đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp, hậu môn viêm đỏ lồi ra ngoài.
Xuất hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, quanh miệng, mắt lồi đục, xuất huyết, bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, tia vây cụt dần.
Phân biệt hai bệnh truyền nhiễm ở cá trắm cỏ
Bệnh viêm ruột (đốm đỏ) do vi khuẩn/Bệnh xuất huyết do vi rút
Giống nhau:
Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài:
- Cá kém ăn hoặc bỏ ăn
- Da cá màu tối, khô ráp, cá thường bơi trên tầng mặt
- Mang xuất huyết dính nhiều bùn
- Hậu môn sưng đỏ
- Vẩy rụng và bong ra, các vây xơ rách, tia vây cụt dần.
- Có mùi tanh đặc trưng.
Giải phẫu:
- Cơ quan nội tạng: Gan, lách, thận, xoang bụng xuất huyết có nhiều dịch.
- Ruột không có thức ăn
Mùa vụ xuất hiện bệnh:
- Mùa xuân, đầu mùa hè (tháng 3 – 5) và mùa thu (tháng 7- 10).
Khác nhau:
Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài
- Xuất hiện các đốm màu đỏ trên thân, các vết loét ăn sâu vào cơ
- Cá bị bệnh 1 –2 tuần có thể chết, tỷ lệ chết 30 – 40%. Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài thay đổi rõ ràng.
- Ruột có thể chứa đầy hơi, thành ruột xuất huyết...
- Bệnh xuất hiện ở cá trắm cỏ trên 1 tuổi và cá bố mẹ.
- Bệnh gặp ở nhiều loài cá nước ngọt như mè, trôi, chép...
- Xoang miệng, xoang mang, nắp mang, mắt, gốc vây xuất huyết, điển hình là dưới da xuất huyết, bệnh nặng toàn thân.
- Cá bị bệnh 3 – 5 ngày có thể chết, tỷ lệ chết từ 60 – 80% nhiều ao, lồng chết 100%. Dấu hiệu không thay đổi lớn nên gọi là bệnh "đốm trắng".
- Thành ruột xuất huyết nhưng không hoại tử.
- Bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá giống. Cá trên 1 tuổi mức độ nhiễm bệnh nhẹ.
Phòng và trị bệnh
-  Khi môi trường thay đổi xấu về  Nhiệt độ, oxy hòa tan, đáy ao và nguồn nước dơ: Tạt AMIN C  1 Kg/ 1000 m3 nước và kết hợp cho ăn VITALEC 405 FS  liều 5 g/kg thức ăn.
- Định kỳ cho ăn men đường ruột: BIOTICBEST  5 g/1kg thức ăn
- Xử lý diệt khuẩn định kỳ 10 – 15 ngày/lần: SANDIN 267 liều 1 lít/2000 - 3000 m3nước hoặc BIOXIDO 150 liều 1 lít/ 4000 m3 nước. Sau 2- 3 ngày cấy men vi sinh AQUA BIO BZT hoặc CITYBIOZY để làm sạch nước và đáy ao.Trị bệnh:
Phác đồ 1: Trộn cho ăn kháng sinh TRIMDOX 240  liều 5 g/1 kg thức ăn, liên tục 5 – 7 ngày.
Phác đồ 2: Trộn cho ăn kháng sinh SAN FLOFENICOL  liều 5 g/1 kg thức ăn kết hợp ANTI – S liều 5 g/1 kg thức ăn, liên tục 5 – 7 ngày.

2.BỆNH TRÙNG MỎ NEO Ờ CÁ TRẮM :
Triệu chứng:  - Xuất hiện những nốt đỏ, xuất huyết, các vùng bị viêm loét trên mình cá.
Cá thường gầy yếu, đầu to, da mất dần màu sắc bình thường bơi lờ đờ, chậm chạp, phản ứng kém với người và các sinh vật địch hại.
Phòng bệnh:
-          Thường xuyên thay nước.
-          Định kỳ diệt khuẩn 15 ngày/lần: BIOXIDO 150 liều 1 lít /4000 m3 hay SANDIN 267 liềi 1 lít / 2000 m3 nước.   
Trị bệnh:
-          Ngày thứ nhất Thay nước, ngày thứ 2  dùng OSCILL ALGA STRONG liều 1 lít /3000 m3 nước, dùng liên tục 2- 3 lần nếu cần thiết.
-          Trường hợp nếu cá bệnh nặng thì có thể dùng thêm WU 100.

3.BỆNH TRÙNG BÀO TỬ CÁ TRẮM:
Khi cá bị bệnh lỗ hậu môn có dịch màu vàng, do quá trình sinh sản Eimeria sinh ra nhiều liệt trùng phá hoại vách của thành ruộtlàm tổn thương tổ chức ruột. Để khẳng định thì ta lấy dịch ruột ra để kiểm tra dưới kính hiển vi. Theo một số tài liệu của Liên Xô, Trung Quốc ... thì giống Eimeria  ký sinh trên một số giống cá nuôi và chủ yếu ký sinh trên cá lớn gây tác hại nghiêm trọng làm chết cá. Eimeria khi ra môi trường nước sống khá lâu, bào nang lắng xuống trong thuỷ vực hay lẫn trong cỏ cây, thức ăn nên cá ăn vào nhiễm trực tiếp không qua ký chủ trung gian. Nhiệt độ nước 24-300C thích hợp cho Eimeria sinh sản. Bệnh phát triển mạnh vào mùa hè. 
    Eimeria có vỏ cứng bao ngoài và có thể tồn tại dưới đáy ao hồ, khi gặp điều kiện thuạn lợi sẽ phát triển vì thế tiêu diệt hoàn toàn rất khó khăn, càn chú ý các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.
Phòng bệnh :
-          Tẩy dọn ao và bón vôi  trước khi thả cá.
-          Thường xuyên thay nước
-          Định kỳ diệt khuẩn 15 ngày/lần: BIOXIDO 150 liều 1 lít /4000 m3 hay SANDIN 267 liềi 1 lít / 2000 m3 nước.   
-          Nếu có điều kiện dùng men vi sinh xử lý đáy va2 nước bằng AQUA BIO BZT hay CITYBIOZY .
Trị bệnh: Trộn TRIMDOX 240  liều 5 g/ 1kg thức ăn hay 1 kg/ 4 tấn cá, dùng 5- 7 ngày liên tục
(tổng hợp)