Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Chuồng nuôi lợn nái và úm lợn con, những yêu cầu cơ bản

TNL-Trang trại chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp đang hình thành và phát triển. Trong một trại có nhiều chuồng khác nhau cho từng loại lợn. Chuồng lợn nái chờ phối giống đến nuôi con, kể cả lợn đực giống, chuồng úm lợn con, chuồng lợn hậu bị và nuôi thịt. Mỗi chuồng có khoảng trống cách nhau trong trại, khoảng cách giữa các chuồng thường là 8 - 10 m.

>>>>Máy ấp trứng mini tự động Ngọc Linh và những ưu điểm.


1/ Ngăn chuồng lợn nái chờ phối và chửa
Hiện nay theo phương thức xây dựng mới có thể lắp ráp di động các ngăn ô theo từng chuồng để phù hợp với kỹ thuật mới. Nhằm đạt được điều này cần tạo ra các phần ngăn cho lợn nái chờ phối đến có chửa bằng các tấm sắt hoặc ống nước tráng kẽm. Với phương thức này chuồng lợn nái chờ phối và khi kiểm tra thụ thai thuận lợi, nhờ đó nâng tỷ lệ thụ thai ở lợn nái sinh sản. Giảm di chuyển lợn nái từ lúc chờ phối đến có chửa.
Chú ý khi sử dụng sắt tròn để bàn, các tấm ngăn bằng sắt tròn phải trơn, cứng và có kích thước nhỏ nhất là F 16 rồi lắp ráp thành chuồng. Tất cả các cột ngăn được chôn xuống nền bê tông và ngăn giữa chúng với nhau bằng các cây sắt dài dọc theo dãy chuồng. Ví dụ: Nuôi 30 lợn nái cần hàn 31 tấm ngăn để lắp cho 30 ô chuồng nuôi lợn nái chửa và chờ phối.
Ưu việt của kiểu chuồng này là dễ lắp, dễ tháo gỡ và dễ di dời đi nơi khác. Sở dĩ, ngăn ô nái chửa và chờ phối giống cho lợn nái từ khi chờ phối đến lúc phối có chửa cho đến khi đẻ 147 ngày (4 ngày chờ phối, 115 ngày có chửa). Như vậy lợn nái ở trong ô cũi đẻ tối đa 35 ngày. Ta có một số ngăn đực giống để nhốt lợn hậu bị thay đàn nên số ngăn nái chửa và chờ phối sẽ không thừa.
Đối với lợn nái chờ phối và chửa: ngăn ô chuồng có thể gắn trực tiếp trên nền xi măng, có độ nghiêng 3 - 50C, phía sau ô có rãnh thoát nước sau 5 - 7 cm theo hướng xuôi về phía sau. Nếu dùng nền bê tông đúc sẵn có khe hở, không cần có độ nghiêng sẽ tự thoát nước.
2/ Cũi đẻ cho lợn nái
Đối với lợn nái đẻ nuôi con: Nếu làm cũi đẻ riêng biệt đặt lên nền chuồng, cần nâng cao nền chuồng 80cm và có rãnh trống rỗng ở giữa để thoát nước, không cần có chân cao, không cần làm cũi và lắp đặt, cần chú ý đến kích cỡ phù hợp với yêu cầu của lợn nái sinh sản, cũi đẻ có độ dài 2,2m; rộng 1,7m; ngăn ô nái đẻ rộng 0,6m; hai ô lợn con tách mẹ 0,5m là thích hợp.
Tất cả các ô ngăn lợn nái chờ phối, có chửa đều ngăn núm uống nước tự động có độ nghiêng từ 5 - 80C, cách mặt nền 45 - 55cm là thích hợp. Cũi lợn nái đẻ gắn hai núm uống tự động, một cho lợn nái và một cho lợn can, cao cách mặt sàn 15 - 20cm.
Cũi đẻ cho lợn nái trên nền chuồng là sàn được làm bằng sắt tròn hoặc tấm nhựa chuyên dùng, khung cũi làm bằng sắt chữ L x 50, ngăn chuồng lợn nái làm bằng sắt F 16 hoặc bằng ống nước tráng kẽm F 21, F 34 (tốt nhất là ống nước loại F 34). Chú ý khi hàn sắt cho lợn nái và lợn con, khe hở giữa các ống sắt tròn không quá 0,8cm.
Ngăn sàn ô lợn nái nên sử dụng sắt tròn F 12 hoặc sắt vuông chữ U. Nếu làm cũi để riêng rẽ, đặt lên nền chuồng tận dụng chuồng lợn cũ. Cũi đẻ cần phải có chân, cao tối thiểu từ mặt nền lên đến sàn cũi đẻ là 35cm. Lợi thế của cũi đẻ là giảm tỷ lệ hao hụt lợn con từ sơ sinh đến cai sữa. Như vậy, lợi thế của cũi đẻ so với nuôi sàn bê tông đã nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi.
3/ Chuồng nuôi lợn con sau cai sữa 28 - 60 ngày
Để cai sữa sớm lợn con (28 ngày tuổi) cần có chuồng thích hợp, vì 7 ngày tuổi đã tập cho lợn con ăn sớm. Chuồng úm cần rộng 2 m nên chia từng ngăn nhỏ, kích thước 100 x 150cm. Lợn con lúc cai sữa đưa lên chuồng úm cần nhốt riêng theo khối lượng nuôi theo nhóm, sẽ phát triển tốt và có độ đồng đều cao.
Thành ô cao 85cm để lợn con khỏi nhảy ra ngoài, sàn chuồng úm cần lát bằng tấm nhựa chuyên dùng, có máng tập ăn cho lợn con đặt dọc thành chuồng, có núm uống nước tự động đặt cao cách sàn chuồng khoảng 25cm, cũng có thể tận dụng máng ăn tự động. Lợn con cai sữa (lợn lai và lợn ngoại) lúc 28 ngày tuổi khoảng 7 kg, nuôi trong chuồng úm 28 - 60 ngày sẽ đạt khối lượng bình quân 18 kg (18 - 20 kg) sau 60 ngày chuyển qua nuôi hậu bị và nuôi thịt.
Nói chung, các loại ô chuồng cần chống nóng, lạnh và thông thoáng tốt. Mái chuồng phải cao và nên làm 2 mái. Sử dụng nước phun trên mái vào mùa nắng nóng, nhất là loại mái bằng tôn và fibroximăng. Sử dụng vòi phun sương hoặc quạt máy lớn trong chuồng. Sử dụng vòi phun nhỏ giọt trên lưng lợn nái lúc trời nắng nóng. Che chắn tránh nắng chiều chiếu trực tiếp vào lợn. Gặp lúc trời mưa, gió lùa và mùa rét lợn con dễ bị cảm lạnh cần che chuồng hoặc dùng đèn sưởi ấm cho lợn con mới sinh, đảm bảo nhiệt độ trong chuồng úm 25 - 280C.
(tổng hợp)

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Trang trai xuất ngũ trồng nấm bào ngư thu nhập trăm triệu


Làm giàu nơi quê nhà
Sáng 25/8, chúng tôi tìm đến trang trại trồng nấm bào ngư của anh Trần Tuấn Vũ. Cơ sở nằm sâu trong con đường ngoằn ngoèo, cách trung tâm thành phố gần 20 km. Anh Vũ đang loay hoay thu hoạch nấm bên trong. Quãng chừng dăm bảy phút, chuông điện thoại lại reo lên, nói chuyện xong, anh cho biết: Mấy ngày nay nhiều khách hàng gọi điện đến đặt hàng nhưng không đủ giao mà chủ yếu giao cho khách hàng quen. Sáng sớm đã đi giao cho mối ở chợ một đợt rồi, giờ hái chuẩn bị để trưa giao tiếp.
Anh Vũ kể, sau khi tốt nghiệp THPT năm 2011, anh viết đơn tình nguyện đi nghĩa vụ quân sự và được phân công ở Đội đặc nhiệm, thuộc Trung đoàn Cảnh sát cơ động Tây Nam bộ đóng tại phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đến đầu năm 2014 hoàn thành nghĩa vụ trở về nhà. Thay vì đi học nghề hay vác đơn đi xin việc để lãnh lương tháng, anh chọn con đường đi riêng cho bản thân mình bằng cách mở trang trại trồng nấm bào ngư tại nhà để vừa tiện chăm sóc cha mẹ già và làm giàu trên chính mảnh đất mình sinh ra. Anh là con út trong gia đình 5 anh em, các anh chị đã có gia đình và ở riêng.
 Thời gian đầu anh học kinh nghiệm trồng nấm từ người quen ở Sóc Trăng và nhiều người có kinh nghiệm khác. Đồng thời, anh nghiên cứu thêm tài liệu trên mạng về loại nấm bào ngư. Tháng 7/2014, từ số tiền nhà nước hỗ trợ đi nghĩa vụ được 21 triệu đồng và anh vay mượn thêm hơn 40 triệu đồng nữa để xây dựng trang trại diện tích gần 150 m2 và mua 4.000 phôi giống sản xuất.
Sản xuất sạch
Anh Vũ cho biết, thời gian từ lúc mua phôi về sản xuất đến thu hoạch là khoảng 30 ngày. Tuy nhiên, loại nấm này quy trình sản xuất rất khắt khe, phải làm theo quy trình khép kín không để côn trùng từ bên ngoài xâm nhập vào. Bên trong cơ sở không hút thuốc vì khói sẽ làm thối nấm. Hơn nữa, loại này rất dễ bị sâu ăn nhưng không được sử dụng thuốc trừ sâu để đảm bảo sản phẩm sạch. Vì thế, để hạn chế tối đa tác hại, anh dùng thiên địch đối phó sâu bằng cách cho nhện sinh sản tự nhiên bên trong trang trại để nhện tìm ăn các loại sâu khi chúng tấn công nấm.
Về kinh nghiệm trồng nấm đạt năng suất cao, anh Vũ tâm sự: “Ngoài việc chọn mua phôi giống chất lượng, trong quá trình sản xuất phải đảm bảo 2 yếu tố là nhiệt độ từ 20 đến dưới 300C còn độ ẩm khoảng 90% thì nấm mới phát triển tốt”. Theo kinh nghiệm làm nấm ít tốn diện tích của anh Vũ, thay vì phải làm kệ anh dùng sợi dây treo lơ lửng trên trần nhà, mỗi sợi dây treo hơn 20 bịch phôi giống, mỗi ngày tưới 3 – 4 lần. Về đầu ra sản phẩm, anh Vũ cho biết, khó khăn lúc đầu do ở đây ít người biết đến loại nấm này mà họ quen với nấm rơm truyền thống. Hơn nữa nấm bào ngư đắt tiền hơn nên người dân nông thôn không lựa chọn. Hiện khách hàng đã biết đến nhiều nên không cần phải lo đầu ra. Mỗi ngày sản xuất ra không đủ để cung cấp cho khách hàng.
Hiện tại, trang trại của anh mỗi ngày bán từ 15 – 20 kg, cao điểm 40 kg nấm bào ngư với giá từ 35.000 – 40.000 đồng/kg. Trừ chi phí, một năm lãi gần 100 triệu đồng. Anh Vũ cho biết, sắp tới sẽ mở rộng diện tích gấp đôi để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Không chỉ làm giàu cho bản thân mà anh Vũ còn sẵn sàng hướng dẫn kỹ thuật, quy trình sản xuất cho thanh niên địa phương khi có người nhờ.
Chị Trịnh Ngọc Bích, Bí thư Đoàn phường Thường Thạnh cho biết, anh Vũ là thanh niên có chí cầu tiến, đam mê nghiên cứu và có tính sáng tạo trong sản xuất. Trong phong trào Đoàn, anh luôn tích cực tham gia. Còn anh Huỳnh Thái Nguyên, Phó Bí thư Thành Đoàn Cần Thơ đánh giá, mô hình trồng nấm bào ngư của anh Vũ mang lại hiệu quả kinh tế khá cao và phù hợp với điều kiện phát triển ở nông thôn. Thành Đoàn sẽ đồng hành, hỗ trợ và tạo điều kiện để mô hình này phát triển hơn nữa nhằm tạo công ăn việc làm cho đoàn viên thanh niên và giúp vươn lên làm giàu. Đồng thời, giới thiệu thanh niên khác đến tham quan, học hỏi.
Hiện tại, trang trại của anh Trần Tuấn Vũ mỗi ngày bán từ 15 – 20 kg, cao điểm là 40 kg nấm bào ngư với giá dao động từ 35.000 – 40.000 đồng/kg. Trừ chi phí, một năm lãi gần 100 triệu đồng.
(theo:tiền phong|) 

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Một cử nhân “thất nghiệp ” trở thành một “tỉ phú” nông nghiệp.

TNL- Chị Nguyễn Thị Duyên (SN 1983, trú tại thôn Vũ Xuân, xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) là một trong số ít những người phụ nữ dũng cảm biến niềm yêu hoa, đam mê hoa của mình thành sự nghiệp làm giàu. Tốt nghiệp đại học, xin việc mãi không xong, tuy thế không nản chí, chị đã khởi nghiệp từ chính những cây hoa trên mảnh đất quê hương.
Cử nhân thất nghiệp
Chị Duyên bện cánh đồng hoa ly tiền tỷ của mình 
Cơ sở hoa ly xuất khẩu của Duyên thuộc địa phận thị trấn Tứ Trưng (huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Đến đây, khách không khỏi choáng ngợp trước cánh đồng hoa ly rộng lớn, bạt ngàn sắc xanh. Ấn tượng đầu tiên về Duyên là sự giản dị. Dáng người nhỏ nhắn, nước da ngăm đen, chân đi đôi ủng cao quá gối, trông chị như một nông dân thứ thiệt. Ít ai ngờ, người phụ nữ vừa mới bước qua tuổi 30 ấy đã có trong tay cơ nghiệp hơn 10 tỷ đồng.
Duyên sinh ra trong một gia đình thuần nông, là chị cả trong ba chị em. Năm miệng ăn trong gia đình chỉ trông vào mấy sào ruộng và việc làm thuê của bố mẹ. Việc ăn học của ba chị em Duyên trở thành gánh nặng của cả gia đình. Nhưng không vì thế mà Duyên nản chí, chị vẫn chăm chỉ học hành với quyết tâm thoát nghèo. Tốt nghiệp cấp 3, Duyên quyết định thi vào Khoa Cây trồng Trường Đại học Nông nghiệp, bởi chị có ước mơ làm giàu từ chính cái cây, hòn đất. Duyên kể lại: “Ngày hai bố con xuống Hà Nội thi đại học, tôi với bố lo đến mất ngủ. Nhưng không phải lo vì thi mà chỉ lo thiếu tiền bởi trong tay chỉ có vài trăm nghìn đồng”.
Trở thành tân sinh viên của Trường Đại học Nông nghiệp, Duyên vội vã tìm công việc làm thêm, kiếm tiền trang trải cuộc sống. Hai năm sau, Duyên đón đứa em thứ hai xuống Hà Nội học. Hai năm sau nữa, đứa em thứ ba của Duyên cũng khăn gói xuống Hà Nội làm sinh viên. Để lo cho ba chị em, Duyên vừa đi làm gia sư, vừa làm bồi bàn, rửa bát thuê trong các quán bia, rượu. Vất vả là vậy nhưng Duyên vẫn hoàn thành tốt việc học với thành tích đạt loại khá.
Năm 2006, tốt nghiệp ra trường với tấm bằng khá trong tay, Duyên tất bật nộp hồ sơ, đi phỏng vấn xin việc, nhưng đều không thành. Có những lúc nản chí Duyên đã muốn buông xuôi. Chị tâm sự: “Ngay từ đầu mình đã xác định việc xin vào làm viên chức nhà nước là rất khó. Nhưng bốn năm vất vả ăn học mình không thể bỏ phí. Sau nhiều đêm trăn trở mình bỗng nhận ra, qua bốn năm đại học mình đâu chỉ có tấm bằng, mình còn có kiến thức tích lũy trong đầu, vậy tại sao không đem nó ra áp dụng vào thực tế cuộc sống”.
Vậy là sau hơn một năm không thể kiếm nổi việc làm, Duyên quyết định cất tấm bằng đại học trong ngăn tủ, quay về gây dựng cơ sở trồng hoa trên chính mảnh đất quê hương. Nói về sự lựa chọn của mình, Duyên chia sẻ: “Từ nhỏ, cũng như bao bạn gái khác, mình có niềm yêu thích đặc biệt với các loài hoa. Hơn nữa, khi theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp, mình được đi theo các thầy cô trong trường thực hiện các dự án về hoa. Dự án gây dựng cơ sở trồng hoa của mình nhen nhóm từ đấy”. Với tấm bằng cử nhân đại học, chấp nhận quay về với đồng ruộng, tự mình gây dựng cơ nghiệp quả là một quyết định táo bạo của Duyên.
Tỉ phú từ hai bàn tay trắng
Bỏ qua những lời dị nghị, bàn tán của dân làng về chuyện thất nghiệp, Duyên bắt tay vào việc tìm hiểu, chọn đất và giống cây trồng. Nhờ sự ủng hộ của gia đình và bà con cô bác, chị mượn được 500 triệu đồng dùng để mua giống và các vật dụng cần thiết. Loài hoa chị chọn khởi nghiệp là hoa loa kèn với diện tích ban đầu là 3,5 mẫu.
Chị vui vẻ tâm sự: “Đến giờ mình vẫn không hiểu nổi tại sao ngày đó bố mẹ lại tin tưởng đi vay cho 500 triệu để mình rải nó ra đồng. Nói dại, nếu việc trồng hoa thua lỗ, có lẽ bố mẹ có bán cả cơ nghiệp cũng không đủ trả nợ. Giờ nghĩ lại vẫn thấy mình liều”.
Là cử nhân ngành nông nghiệp, có kiến thức chuyên môn là một lợi thế, nhưng để có được thành quả hôm nay, Duyên cũng phải trải qua không ít gian nan, vất vả. Công việc nhiều nên thời gian đầu Duyên thuê 10 công nhân là những người rảnh việc trong làng. Với quy mô 3,5 mẫu hoa, người giúp việc gần như chưa có kinh nghiệm trong việc trồng, chăm sóc hoa nên ban đầu, hầu như việc gì cũng đến tay chị, từ cải tạo đất, xem bệnh hoa, lựa chọn hoa đến cắt tỉa, tìm thị trường tiêu thụ…
Nhớ lại những ngày đầu lập nghiệp, chị cho biết: “Thời gian đó mình gần như ăn ngủ với hoa. Ngày đi làm vườn, tối bốc hoa đem xuống Hà Nội bán đến 1- 2h sáng. Suốt một năm trời, mỗi ngày mình chỉ được ngủ trên giường khoảng 2 tiếng đồng hồ. Thời gian ngủ còn lại, mình tranh thủ trên xe ô tô trong quãng đường vận chuyển hoa”.
“Vạn sự khởi đầu nan”, cũng bởi quá vất vả nên thành quả đến với Duyên thật ngọt ngào. Vụ hoa đầu tiên, chị bội thu. Sau 6 tháng, trừ chi phí đầu tư, chị thu được 1,3 tỷ đồng, con số đáng mơ ước ở cái tuổi 24.
Thừa thắng xông lên, số lãi thu được chị đem tái đầu tư. Từ diện tích 3,5 mẫu hoa ở Vũ Di, được sự giúp đỡ của chính quyền thị trấn Tứ Trưng trong việc thuê đất, chị mở rộng quy mô lên hơn 10 mẫu và thành lập Công ty Giống hoa vào năm 2008.
Ba năm sau, chị Duyên chuyển từ trồng hoa loa kèn sang trồng hoa ly, bởi theo khảo giá thị trường chị nhận thấy trồng hoa ly thu được lợi nhuận cao hơn cả. Nhưng đây lại là thời điểm khó khăn lớn với chị, bởi năm 2011 vườn hoa ly của chị gặp phải trận mưa kéo dài hàng tháng. Một diện tích hoa ly lớn bị thối, lại thêm sâu bệnh phá hoại. Chị Duyên nhanh chóng bước vào khắc phục, phần hoa thối chị phá bỏ đi để khỏi lây lan sang các vùng hoa khác và phun thuốc trừ sâu bệnh. Cuối cùng vườn hoa ly của chị cũng được an toàn.
Chị Duyên chia sẻ: “Nghề trồng hoa chẳng khác gì nuôi con nhỏ. Phải thực sự yêu mến, nâng niu thì hoa mới nở đẹp, cho năng suất cao”.
Sau hơn 7 năm miệt mài trên đồng, dưới ruộng, đến nay Duyên đã gây dựng được hơn 20 mẫu hoa ly với hai lán trại, đem lại lợi nhuận hàng trăm triệu đồng/năm. Không chỉ vậy, chị còn tạo công ăn việc làm cho khoảng 20 đến 30 lao động với mức thu nhập bình quân 2,7 triệu đồng/người/tháng. Hơn nữa, chị Duyên còn hợp tác với một doanh nhân chuyên về giống hoa, xuất khẩu sang vài nước bạn.
Năm 2013, trước những khó khăn chung của nền kinh tế, cơ sở hoa ly của chị Duyên cũng gặp phải không ít thử thách như giống hoa đắt, giá hoa rẻ, nhân công tăng cao và đặc biệt là thị trường xuất khẩu bị hạn chế. Trước những khó khăn như vậy, chị đã nhanh chóng chuyển hướng phát triển, thay vì phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu như trước đây, chị mở rộng phát triển thị trường hoa trong nước.
Đến nay, sản phẩm hoa ly của chị đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lào Cai, Quảng Ninh và cả thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù không cao như các năm trước nhưng lợi nhuận chị thu được vẫn đạt từ 100 – 200 triệu đồng/năm.
Ông Đỗ Hồng Nhâm (hàng xóm của chị Duyên) cho biết: “Trong xã, cô Duyên là tấm gương làm kinh tế giỏi. Nhờ cô Duyên mà rất nhiều phụ huynh trong xã nhận ra việc học tập là rất cần thiết với con trẻ. Nhưng học không phải để lấy bằng mà để lấy kiến thức rồi về áp dụng vào thực tế”.
(Tổng hợp)

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Các bệnh thường gặp trên cá trắm cỏ

TNL-Cá trắm cỏ rất dễ nuôi,nhanh lớn lại giá trị,nhưng đa phần cá trắm cỏ thường bị bệnh khi được khoảng 0,5-1kg mà đa phần bà con không biết nguyên nhân và cách khắc phục .Sau đây là những bệnh chính mà cá trắm cỏ thường mức nhât để bà con tham khảo và biết các phòng tránh cũng như chữa trị.
Cá trắm cỏ bị bệnh

 1.PHÒNG TRỊ BỆNH VIÊM RUỘT VÀ XUẤT HUYẾT Ở CÁ TRẮM CỎ:  : Bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ thể hiện ở hai dạng đó là xuất huyết đốm đỏ do vi khuẩn và vi rút gây ra
Dấu hiệu bệnh
Dấu hiệu đầu tiên là cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt nước. Da cá thường bị đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp, hậu môn viêm đỏ lồi ra ngoài.
Xuất hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, quanh miệng, mắt lồi đục, xuất huyết, bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, tia vây cụt dần.
Phân biệt hai bệnh truyền nhiễm ở cá trắm cỏ
Bệnh viêm ruột (đốm đỏ) do vi khuẩn/Bệnh xuất huyết do vi rút
Giống nhau:
Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài:
- Cá kém ăn hoặc bỏ ăn
- Da cá màu tối, khô ráp, cá thường bơi trên tầng mặt
- Mang xuất huyết dính nhiều bùn
- Hậu môn sưng đỏ
- Vẩy rụng và bong ra, các vây xơ rách, tia vây cụt dần.
- Có mùi tanh đặc trưng.
Giải phẫu:
- Cơ quan nội tạng: Gan, lách, thận, xoang bụng xuất huyết có nhiều dịch.
- Ruột không có thức ăn
Mùa vụ xuất hiện bệnh:
- Mùa xuân, đầu mùa hè (tháng 3 – 5) và mùa thu (tháng 7- 10).
Khác nhau:
Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài
- Xuất hiện các đốm màu đỏ trên thân, các vết loét ăn sâu vào cơ
- Cá bị bệnh 1 –2 tuần có thể chết, tỷ lệ chết 30 – 40%. Dấu hiệu bệnh lý bên ngoài thay đổi rõ ràng.
- Ruột có thể chứa đầy hơi, thành ruột xuất huyết...
- Bệnh xuất hiện ở cá trắm cỏ trên 1 tuổi và cá bố mẹ.
- Bệnh gặp ở nhiều loài cá nước ngọt như mè, trôi, chép...
- Xoang miệng, xoang mang, nắp mang, mắt, gốc vây xuất huyết, điển hình là dưới da xuất huyết, bệnh nặng toàn thân.
- Cá bị bệnh 3 – 5 ngày có thể chết, tỷ lệ chết từ 60 – 80% nhiều ao, lồng chết 100%. Dấu hiệu không thay đổi lớn nên gọi là bệnh "đốm trắng".
- Thành ruột xuất huyết nhưng không hoại tử.
- Bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá giống. Cá trên 1 tuổi mức độ nhiễm bệnh nhẹ.
Phòng và trị bệnh
 Khi môi trường thay đổi xấu về  Nhiệt độ, oxy hòa tan, đáy ao và nguồn nước dơ: Tạt AMIN C  1 Kg/ 1000 mnước và kết hợp cho ăn VITALEC 405 FS  liều 5 g/kg thức ăn.
- Định kỳ cho ăn men đường ruột: BIOTICBEST  5 g/1kg thức ăn
Xử lý diệt khuẩn định kỳ 10 – 15 ngày/lần: SANDIN 267 liều 1 lít/2000 - 3000 m3nước hoặc BIOXIDO 150 liều 1 lít/ 4000 m3 nước. Sau 2- 3 ngày cấy men vi sinh AQUA BIO BZT hoặc CITYBIOZY để làm sạch nước và đáy ao.Trị bệnh:
Phác đồ 1: Trộn cho ăn kháng sinh TRIMDOX 240  liều 5 g/1 kg thức ăn, liên tục 5 – 7 ngày.
Phác đồ 2: Trộn cho ăn kháng sinh SAN FLOFENICOL  liều 5 g/1 kg thức ăn kết hợp ANTI – S liều 5 g/1 kg thức ăn, liên tục 5 – 7 ngày.

2.BỆNH TRÙNG MỎ NEO Ờ CÁ TRẮM :
Triệu chứng:  Xuất hiện những nốt đỏ, xuất huyết, các vùng bị viêm loét trên mình cá.
Cá thường gầy yếu, đầu to, da mất dần màu sắc bình thường bơi lờ đờ, chậm chạp, phản ứng kém với người và các sinh vật địch hại.
Phòng bệnh:
-          Thường xuyên thay nước.
-          Định kỳ diệt khuẩn 15 ngày/lần: BIOXIDO 150 liều 1 lít /4000 m3 hay SANDIN 267 liềi 1 lít / 2000 m3 nước.   
Trị bệnh:
-          Ngày thứ nhất Thay nước, ngày thứ 2  dùng OSCILL ALGA STRONG liều 1 lít /3000 m3 nước, dùng liên tục 2- 3 lần nếu cần thiết.
-          Trường hợp nếu cá bệnh nặng thì có thể dùng thêm WU 100.

3.BỆNH TRÙNG BÀO TỬ CÁ TRẮM:
Khi cá bị bệnh lỗ hậu môn có dịch màu vàng, do quá trình sinh sản Eimeria sinh ra nhiều liệt trùng phá hoại vách của thành ruộtlàm tổn thương tổ chức ruột. Để khẳng định thì ta lấy dịch ruột ra để kiểm tra dưới kính hiển vi. Theo một số tài liệu của Liên Xô, Trung Quốc ... thì giống Eimeria  ký sinh trên một số giống cá nuôi và chủ yếu ký sinh trên cá lớn gây tác hại nghiêm trọng làm chết cá. Eimeria khi ra môi trường nước sống khá lâu, bào nang lắng xuống trong thuỷ vực hay lẫn trong cỏ cây, thức ăn nên cá ăn vào nhiễm trực tiếp không qua ký chủ trung gian. Nhiệt độ nước 24-300C thích hợp cho Eimeria sinh sản. Bệnh phát triển mạnh vào mùa hè. 
    Eimeria có vỏ cứng bao ngoài và có thể tồn tại dưới đáy ao hồ, khi gặp điều kiện thuạn lợi sẽ phát triển vì thế tiêu diệt hoàn toàn rất khó khăn, càn chú ý các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.
Phòng bệnh :
-          Tẩy dọn ao và bón vôi  trước khi thả cá.
-          Thường xuyên thay nước
-          Định kỳ diệt khuẩn 15 ngày/lần: BIOXIDO 150 liều 1 lít /4000 m3 hay SANDIN 267 liềi 1 lít / 2000 m3 nước.   
-          Nếu có điều kiện dùng men vi sinh xử lý đáy va2 nước bằng AQUA BIO BZT hay CITYBIOZY .
Trị bệnh: Trộn TRIMDOX 240  liều 5 g/ 1kg thức ăn hay 1 kg/ 4 tấn cá, dùng 5- 7 ngày liên tục
(tổng hợp)

Đừng "đè đầu cưỡi cổ" người nông dân mà thu phí, lệ phí

TNL-Phải bỏ ngay các loại phí, lệ phí bất hợp lý chứ không nói xong rồi để đó.


Nếu thuế, phí và lệ phí không phù hợp lòng dân thì phải bỏ ngay, không còn thời gian để chần chừ nữa.
Đó là quan điểm dứt khoát của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khi nói về các loại thuế, phí trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thú y nói riêng tại hội nghị ngành chăn nuôi gà diễn ra ngày 21-8 ở Hà Nội.
Phải chấm dứt ngay
Liên quan đến những bất hợp lý trong việc thu phí thú y và một số loại phí liên quan khác, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định việc bỏ nhiều loại phí là cần thiết. Bộ NN&PTNT cũng đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính xem xét, quyết định bãi bỏ 31 loại phí, lệ phí liên quan đến lĩnh vực này vốn đang tạo ra gánh nặng cho doanh nghiệp (DN), người tiêu dùng và người chăn nuôi.
Bộ trưởng Cao Đức Phát còn thể hiện thái độ rất quyết liệt trong việc đề nghị các cục, vụ phải rà lại các phí và lệ phí một cách cụ thể và hành động thực sự chứ không thể nói xong rồi để đó.
“Ở đây phải hiểu rằng bỏ thu phí bất hợp lý chính là tháo gỡ khó khăn để ngành chăn nuôi phát triển hơn nữa. Nếu chúng ta kiểm tra xem xe (chở gia súc, gia cầm… - PV) có mang mầm mống dịch bệnh hay không, khi lấy ra một khay để kiểm dịch thì chỉ thu phí một khay, không thể thu phí cả trăm khay trên xe. Tương tự, quả trứng gà cũng vậy, kiểm dịch một quả thì phu phí một quả thôi chứ tại sao lại thu phí cả xe. Tôi yêu cầu phải chấn chỉnh ngay tình trạng này” - ông Phát nhấn mạnh.
Theo ông Phát, việc thu phí kiểm dịch kiểu như trên không phải là cách làm phục vụ nhân dân, đất nước. Cái gì không chính đáng, không phù hợp với lòng dân thì phải bỏ. Không thể cứ “đè đầu cưỡi cổ” dân ra để thu phí như thời gian qua và phải bỏ ngay kiểu làm như vậy.
Trước đó, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) 10-8, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cung cấp một con số khiến nhiều người choáng váng: “Riêng ngành nông nghiệp vừa qua đã rà soát bỏ nhiều loại song vẫn còn 937 khoản phí và 90 lệ phí. Con số này là quá lớn”.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám nói hiện nay Bộ NN&PTNT đã có đề xuất gửi Bộ Tài chính, UBTVQH … bãi bỏ những loại thuế, phí, lệ phí bất hợp lý trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, Bộ cũng đang tiếp tục tập hợp, thống kê lại các loại phí, lệ phí và thuế hiện có để có hướng xử lý phù hợp.
Cần phải sớm loại bỏ những loại thuế, phí, lệ phí không hợp lòng dân. Qua đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Trong ảnh: Kiểm dịch gia cầm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Ảnh: CTV
Dứt khoát “cởi trói”
Dư luận đã lên tiếng nhiều về tình trạng một quả trứng phải cõng 14 loại phí, lệ phí khác nhau. Không chỉ quả trứng mà nhiều sản phẩm khác cũng phải gánh một “rừng” phí. Trước thực trạng đáng buồn này, Bộ NN&PTNT, Bộ Tài chính đồng ý bãi bỏ nhiều loại phí, lệ phí liên quan đến thú y vì có sự trùng lắp, chồng chéo, đồng thời đề xuất bỏ Thông tư 04 về thu phí, lệ phí trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, nhiều địa phương cho rằng nếu bỏ phí, lệ phí trong thú y sẽ ảnh hưởng đến kinh phí hoạt động của ngành, đến việc kiểm dịch, nhất là trong điều kiện ngân sách khó khăn như hiện nay bởi các địa phương không thể bù đắp được.
Liên quan đến vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định không thể nói không thu phí thì sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm dịch; vấn đề là cái gì không hợp lý, không hợp lòng dân thì phải bỏ. “Đơn vị, địa phương nào để xảy ra dịch thì phải chịu trách nhiệm. Về ngân sách, nếu có khó khăn thì phải báo cáo để qua đó Bộ NN&PTNT phối hợp cơ quan chức năng và các địa phương có sự cân đối phù hợp” - ông Phát nhấn mạnh.
Cũng tại hội nghị này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hay có 18 chi cục thú y các tỉnh, thành đã có công văn không đồng ý bãi bỏ nhiều loại phí, lệ phí liên quan đến thú y. Nhưng theo quan điểm của Bộ trưởng Phát: “Việc rà soát, bỏ các loại phí không hợp lý là để ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi được “cởi trói”, phát triển và cạnh tranh với thị trường quốc tế”.
Chỗ nào cũng kiểm dịch làm sao chịu nổi
Hiện nay có rất nhiều thuế, phí, lệ phí vô lý. Nó lên tới hơn 1.000 loại khác nhau. Do vậy tôi không tiện liệt kê ra hết. Tuy nhiên, có mấy mảng phí, lệ phí thú y cần phải loại bỏ hoàn toàn, đồng thời phải rà soát để qua đó bỏ bớt đi nữa cho dân nhờ, không thể có tới một xấp biểu phí, lệ phí… dày như hiện nay.
Ví dụ: Trước khi cấp giấy chứng nhận liên quan đến thú y, cơ quan thú y thường phải tiến hành kiểm tra, khảo nghiệm, xét nghiệm, kiểm dịch, khử trùng, thẩm định… rồi chi phí vật tư, thiết bị. Chưa kể phần phí cũng cần phải loại bỏ, đặc biệt là các loại phí mang tính chất phục vụ lâm sàng. Nhiều loại giấy muốn được cấp phải trả tiền là không thể chấp nhận được, trong khi chúng ta đang khuyến khích ngành chăn nuôi phát triển.
Tôi thấy việc nhiều loại phí, lệ phí hiện nay chồng chéo, như người ta vận chuyển gia cầm từ chỗ này đến chỗ kia cũng bị kiểm dịch nhiều lần. Chẳng hạn như từ Nghĩa Đàn, Nghệ An ra đến huyện Như Thanh (Thanh Hóa) chỉ có vài chục cây số cũng bị kiểm dịch hai lần. Nên kiểm dịch một lần thôi để người dân, DN có thể di chuyển từ tỉnh này đến tỉnh khác, kể cả vào các tỉnh phía Nam hoặc ngược lại. Tỉnh nào cũng kiểm tra, kiểm dịch thì không ổn. Kiểm dịch giống gia cầm mà qua mỗi tỉnh kiểm một lần thì người dân, DN chịu sao nổi.
Ông LÊ BÁ LỊCH, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
Trong buổi thảo luận về dự án Luật Phí, lệ phí tại phiên họp UBTVQH ngày 10-8 vừa qua, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đã “kêu trời” về việc người nông dân đang gánh trên vai quá nhiều khoản phí. “Các đồng chí nhớ hôm chất vấn bộ trưởng Bộ NN&PTNT, đại biểu đã đề cập chuyện con gà, quả trứng bị thu mười mấy loại phí. Bộ trưởng thừa nhận đại biểu nói đúng, thu phí này, phí kia là không cần thiết. Một con gà mà bị đè ra thu đến 14 loại phí, trời đất ơi!”…
(Theo tin:báo pháp luật tphcm)

Vì sao người chăn nuôi "lỗ ",người tiêu dùng vẫn phải mua "giá cao"?

TNL- Nhiều doanh nghiệp chăn nuôi kêu lỗ một thời gian dài, người chăn nuôi lỗ 5.000 - 6.000 đồng/kg gà, nhưng người tiêu dùng vẫn đang phải mua sản phẩm với giá rất cao. Đây là một nghịch lý của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Trước thực trạng này, PV Dân trí đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam.

Thưa ông, hiện nay có thực trạng là người chăn nuôi và doanh nghiệp chăn nuôi đang lỗ nặng, giá bán sản phẩm rất rẻ và bị tồn đọng hàng, tuy nhiên, người tiêu dùng không được tiếp cận sản phẩm với giá thực mà vẫn phải trả giá rất cao. Đâu là nguyên nhân gây ra khoảng cách này?

- Tại thời điểm hiện nay, một số mặt hàng như thịt gà công nghiệp, trứng có giá bán rất thấp do khủng hoảng thừa và do ảnh hưởng của sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, điểm bất cập nhất là trong chuỗi phân phối lợi nhuận và tiêu thụ trong chuỗi sản xuất gà thì lợi nhuận của người sản xuất chỉ chiếm 5%, trong khi đó thương lái thu lợi nhuận 22%, người bán buôn bán lẻ trên 30-33%. Chính vì vậy, sản phẩm đến người tiêu dùng giá vẫn cao mặc dù giá mua tại chỗ thấp. Đấy chính là điểm nghẽn trong hệ thống sản xuất tiêu thụ của ngành chăn nuôi nói chung cũng như của ngành gia cầm nói riêng.

Vậy, làm thế nào để rút ngắn khoảng cách này?

- Theo tôi phải tổ chức lại sản xuất theo chuỗi. Phương thức chăn nuôi gia công cũng là sản xuất theo chuỗi, hợp tác xã liên kết doanh nghiệp cũng là một chuỗi, và thế giới sản xuất đều theo hợp đồng, mà có lẽ lâu dài để cạnh tranh được chúng ta cũng phải tổ chức sản xuất như vậy, chứ không phải phát triển chăn nuôi theo kiểu tự phát như lâu nay, dẫn đến khủng hoảng thừa và bùng nổ về sản lượng và không tiêu thụ được.

Để bảo hộ sản xuất trong nước, chúng ta cần có hàng rào kỹ thuật như thế nào?

- Nước nào cũng có những biện pháp kỹ thuật để bảo hộ cho sản xuất trong nước. Khi gia nhập các hiệp định thương mại của khu vực và thế giới, nước ta cũng vậy. Nhưng đã đến lúc các cơ quan quản lý cần nghiêm túc nghiên cứu để đề ra các biện pháp, các hàng rào kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu để bảo hộ cho sản xuất trong nước.

Tôi lấy ví dụ, khi một quốc gia xuất khẩu nào đó xảy ra dịch, lập tức chúng ta phải cấm nhập khẩu tại nơi có dịch, phải hành động ngay chứ không để quá trễ, quá trễ một vài tháng là sản phẩm của người ta đã xuất ra khỏi nước đó rồi. Thứ hai, cần nghiên cứu về thời gian bảo quản, phương pháp bảo quản để đưa ra các biện pháp kỹ thuật theo thông lệ quốc tế, theo tiêu chuẩn quốc tế để hạn chế sản phẩm chất lượng kém, sản phẩm gần hết hạn tràn vào nước ta.

Ông đánh giá như thế nào về hàng rào kỹ thuật hiện nay của Việt Nam?

- Có thể nói là còn yếu kém và chúng ta cần phấn đấu để vươn tới để khi vào sân chơi thế giới phải phấn đấu điều đó để đạt được hàng rào kỹ thuật như các nước đã làm.

Xin trân trọng cảm ơn ông!
(Theo tin:báo dân trí)

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Chuyện hai quả na và một quả chuối

Trồng Cây Gì ?
Dân gian có câu :
Trẻ trồng Na - Già trồng chuối
Ý nói :Khi còn trẻ Thì đầu tư cho dài hạn
( trồng Na 5 - 7 nắm thu ). Khi già thì đầu tư ngắn hạn ( trồng chuối 6 tháng có quả ).
Theo kinh nghiệm này nhiều nông dân trẻ đã hăng say trồng: Cao su, cà phê, Na, Nhãn, Vải...vv...,Hậu quả là: đến lúc bán được, thì hết sạch vốn, giá lại rẻ bằng cho không ngoại chợ.
Các cụ ông cũng không chịu nghỉ ngơi, vắt chút sức lực cuối cùng đi chồng chuối. Để rồi : cô vợ trẻ cùng anh hàng xóm phải kính cẩn đưa cả chuối và ông nên thờ nóc tủ.
Trước thực trạng này một nữ phóng viên trẻ ( PV) đã đến hỏi một chuyên gia ( xin được giấu tên)
PV: Anh có bình luận gì về hiện tượng này không ạ.
Chuyên gia: Cô có chồng chưa?
Pv: Dạ, Em có rồi, nhưng liên quan gì đâu ạ
Chuyên gia: Nếu lúc trẻ, khoẻ :chồng cô chỉ có 2 quả Na mà không có chuối, cô thích không ?
Pv: cười ngượng, lắc đầu.
Đến lúc già, anh ấy chỉ có 1 quả chuối và không còn Na thì sao nhỉ.Chuyên gia hỏi tiếp!
Pv: Vâng, bỏ đi, chứ làm được gì đâu ạ.
Chuyên gia: Vấn đề là ở chỗ đó: Làm nông nghiệp là phải biết thị trường cần gì, mà đầu tư cả ngắn lẫn dài cho phù hợp. Đó là cái thứ nhất.
PV: Vâng em hiểu rồi, Em sẽ hô hào trồng cả Na và Chuối
Chuyên gia: Nếu một ngày tự nhiên chồng cô có tới 3 quả Na và 2 quả chuối cô thấy thế nào
Pv: Thốt nên " Eo ơi, nhìn chết khiếp, Em chỉ cần 1 chuối 2 Na thôi ạ.
Chuyên gia: Đấy, cái thứ 2 là ở chỗ này. Phải định lượng, để làm tốt quy hoạch ngay từ đầu , tràn nan là vứt
Pv: Em hiểu rồi, Em tranh thủ về qua nhà rồi cho đăng bài ngay ạ
Chuyên gia: Khoan đã, Về giờ, Chồng em lại bầy Chuối và Na ra thì sao làm việc được
Pv: Không anh ạ, đang lúc công việc bù đầu, mệt chết, tâm trạng đâu
Chuyên gia: Thấy chưa, Yếu tố thứ 3 quyết định vẫn là thời điểm, Nông dân cũng phải biết khi nào thị trường cần, để đưa ra sản phẩm.
PV: Tuyệt vời: anh kiêm thêm mảng trồng trọt này nhé,. Em cho phát lên đài ngay ạ.
Chuyên gia: Nói vui thôi,.Cô thấy đấy. Mỗi ngày tôi phải tiếp mấy chục khách, trả lời vài trăm điện thoại cho cái www.vuonchimviet.com đã oải rồi . Còn phải để sức phục vụ..... chứ.
Đúng lúc đấy điện thoại reo.
Đâu dây bên kia:
" Anh song việc chưa, em nhờ tý "
Pv: Vợ anh gọi à, Em không phiền nữa, anh mang Chuối và Na cho chị nhà đi ạ
Chuyên gia: Hừm ! Cô này cũng thông minh đấy nhỉ.
Chả mang về thì sao, vì cô đâu có cần đến nó.
Yếu tố cuối cùng: Hãy chuyển sản phẩm của mình đến nơi nào đang cần nó nhất.
Khi mọi người hiểu và làm rõ 4 vấn đề trên một cách đơn giản thế này thì trồng cây gì cũng được.
Chào cô!
Ps: Cuộc phóng vấn không được phát sóng Vì nhà đài cho rằng nó khác với những gì các giáo sư vẫn thường truyền đạt
(bài viết nguyên văn của facebook Trần nhữ Giáp)

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Tầm quan trọng của việc phòng và trị bệnh giun đủa ở gà

Bệnh giun đũa ở gà do Ascaridia galli (Schrank, 1788) thuộc lớp giun tròn gây ra. Giun đũa gà là bệnh phổ biến xảy ra ở tất cả các lứa tuổi và khắp nơi trên thế giới.

Phòng và trị bệnh giun đũa cho đàn gà con là điều cần thiết
 
Theo khảo sát của Bộ môn Ký sinh trùng, Trung tâm Nghiên cứu thú y, Công ty Navetco cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở gà từ 18-37%
Giun có màu vàng, giun đực dài từ 3-10 cm, giun cái dài từ 7-12 cm; trứng có vỏ dầy, dạng hình bầu dục kích thước 70×90 micrometter; trứng có sức đề kháng tốt và tồn tại lâu trong môi trường. Giun ký sinh trong ruột non của gà, đôi khi ký sinh ở ống dẫn mật.
Chu trình phát triển của giun đũa ở gà: Giun đũa ở gà có chu trình phát triển trực tiếp, giun cái trưởng thành đẻ trứng theo phân thải ra môi trường găp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp trứng sẽ phát triển thành trứng gây nhiễm; thời gian này mất khoảng 5-25 ngày. Gà ăn phải trứng này qua thức ăn, nước uống vào dạ dầy sẽ nở ra ấu trùng và đi xuống ruột non. Từ 1-2 giờ sau khi ăn phải trứng, ấu trùng sẽ xâm nhập tuyến ruột và phát triển ở đó trong 19 ngày; sau đó ấu trùng trở lại lòng ruột sống và phát triển đến giai đoạn trưởng thành.
Thời gian từ lúc gà ăn phải trứng gây nhiễm đến khi giun trưởng thành ký sinh ở ruột non khoảng 35-58 ngày.
hinh-anh-dan-ga-chan-nuoi (21)
Đàn gà khoẻ mạnh khi không bị bệnh giun đũa
Bệnh lý:
Gà bị ảnh hưởng trong giai đoạn ấu trùng gây xuất huyết niêm mạc ruột, nơi ký sinh của ấu trùng ruột bị giãn, sưng và dầy lên, thành ruột bị phù tổn thương tạo điều kiện cho vi trùng đường ruột nhất là E.coli phát triển làm cho gà bệnh nặng hơn.
Giun đũa gây bệnh nặng ở gà con hơn ở gà lớn; thời gian phát triển của giun đũa ở gà con thường từ 30-35 ngày, trong khi ở gà lớn là 50 ngày.
Gà trên 3 tháng tuổi có sức đề kháng tốt với khả năng nhiễm giun đũa ít hơn so với gà dưới 3 tháng tuổi. Gà nuôi chăn thả như gà thả vườn hay nuôi trên nền trấu như cách chăn nuôi của người dân ở nước ta rất dễ bị nhiễm giun đũa gà.
Tác hại của bệnh: Gà bị nhiễm nặng gây mất máu, niêm mạc, mồng nhợt nhạt, chân khô, ăn giảm, tiêu chảy, còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn nhiều thức ăn cho 1kg tăng trọng. Khi bị nhiễm nặng gà thường chết do tắc ruột hay tắc ống dẫn mật và có thể giảm tăng trọng đến 30%.
Chẩn đoán:
– Trên gà sống: Thường là xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa.
– Mổ khám: Ở ruột non tìm giun đũa là phương pháp cho kết quả chính xác nhất.
Nguồn truyền lây: Gà lớn bị nhiễm giun đũa thải trứng ra ngoài môi trường là nguồn truyền lây cho gà con qua qua thức ăn, nước uống; Châu chấu và giun đất có thể mang trứng giun đũa để lây nhiễm cho gà.
Phòng bệnh:
– Nên nuôi gà trên sàn.
– Gà nuôi trên nền nên thường xuyên thay chất độn chuồng.
– Thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống.
– Nuôi cách ly gà con với gà lớn.
– Để giảm ô nhiễm trứng giun trong môi trường cần định kỳ tẩy giun cho gà.
– Gà con bắt đầu tẩy giun đũa ở 4-6 tuần tuổi, sau đó mỗi tháng tẩy 1 lần.
– Gà lớn trên 3 tháng tuổi 3 tháng tẩy 1 lần.
Điều trị:
– Piperazine: Cho uống hoặc trộn vào thức ăn, liều 50-100 mg/kg trọng gà.
– Tetramisol: Cho uống hay trộn thức ăn, liều 40 mg/kg trọng lượng gà. Thuốc có hiệu quả tẩy giun từ 89% – 100%.
– Levamisol: Cho uống liều 30-60ppm.
– Albendazole, Mebendazole có hiệu quả tốt đối với giun đũa gà.
– Fenbendazole: Cho uống, hiệu quả tẩy giun rất cao từ 99,2-100%
– Lvermectine: Tiêm dưới da, liều 0,3 mg/kg thể trọng, hiệu quả tẩy giun từ 90,2 %-95%, thuốc có ưu điểm tẩy được giun non.
(tổng hợp:sinhhocvietnam. Vn)