Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Hiệu quả cao từ trồng đu đủ ruột vàng Carinosa

..
Những ngày đầu tháng 10, khi đến ấp Tân Phú, xã Tân Hòa, TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long chúng tôi được nghe ông Nguyễn Hồng Thi hồ hởi kể hiệu quả chuyện trồng đu đủ Carinora của Cty Hai mũi tên đỏ trên mấy công ruộng của gia đình. Bắt đầu trồng từ tháng 3 đến tháng 8/2015 chỉ với 250 gốc đu đủ Carinosa, ông Thi đã thu hoạch được 25 tấn, giá bán bình quân 5.000 - 6.000 đồng/kg, thu nhập được trên 130 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí phân bón, thuốc BVTV và hạt giống hết 15 triệu đồng, ông đã thu lãi được trên 115 triệu đồng và vườn đu đủ vẫn còn tiếp tục cho trái. Đây quả là một thành quả ngoài sức mong đợi. “Phải nói rằng giống đu đủ Carinosa rất dễ trồng, ít bị bệnh vàng xoăn ngọn (còn gọi bệnh đốm vòng), cho năng suất cao, giá bán cao hơn các giống đu đủ ruột đỏ từ 500 - 2.000 đồng/kg tùy từng thời điểm. Điều đáng nói là thu hoạch đến cổ bông thứ hai mà trái vẫn to đẹp. Thấy có hiệu quả cao nên tháng 5 vừa rồi, tui trồng thêm 450 cây đu đủ Carinosa nữa”, ông Thi nói. Giống đu đủ ruột vàng Carinosa của Cty Hai mũi tên đỏ “Giống đu đủ ruột vàng F1 Carinosa có nguồn gốc từ Thái Lan. Đây là giống có nhiều ưu điểm về mặt canh tác và trong khâu tiêu thụ, đang mang lại thu nhập cao cho nhà vườn. TGST từ trồng đến thu hoạch lần đầu khoảng 6,5 -7 tháng, sau đó cây vẫn tiếp tục sinh trưởng và thời gian thu hoạch có thể kéo dài đến 18 - 20 tháng. Năng suất trung bình đạt 80 - 120 kg/cây, tương đương 20 - 25 tấn trên 1.000 m2. Giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh đốm vòng, đây là bệnh phổ biến và gây hại đáng kể trên cây đu đủ hiện nay” - Th.S Lê Thị Hương Vân, GĐ Phát triển sản phẩm Cty Hai Mũi tên đỏ. Được biết, tại miền Trung, ông Phan Trái ở thôn Bầu Tròn, xã Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cũng trồng 4.000 m2 giống đu đủ Carinosa. Trong quá trình canh tác, ông nhận thấy cây khỏe, cho năng suất cao, ít bị bệnh, ít tốn công và ít đầu tư chăm sóc, giá bán cao hơn các giống ruột đỏ 700 -2.000 đ/kg. Một năm sau khi trồng ông thu được khoảng 40 kg trái/cây, thu hoạch kéo dài 12 tháng thì thu được khoảng 100 kg trái/cây. Giá bán trái tươi bình quân 5.000 - 7.000 đ/kg, giá bán trái chín bình quân 9.000 - 12.000 đ/kg. Trừ hết các khoản chi phí, ông Trái thu lãi được khoảng 150 - 160 triệu đồng/ha. Dự kiến sang năm 2016, ông tiếp tục trồng mới 5.000 m2 đu đủ Carinosa. Anh Võ Hữu Công, cán bộ của Cty Hai mũi tên đỏ cho biết, hầu hết diện tích trồng đu đủ ở vùng ĐBSCL và Đông Nam bộ là giống đu đủ ruột vàng chất lượng cao Carinosa do chính doanh nghiệp cung cấp. Năm 2014, rất nhiều bà con nông dân ở các tỉnh, TP Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ... đã thành công từ trồng giống đu đủ này do đạt năng suất cao lại được giá. Hiệu quả từ trồng đu đủ Carinosa đều đạt được trên 150 triệu đồng/ha. “Cty Hai mũi tên đỏ luôn đồng hành cùng bà con nông dân để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tư vấn kịp thời về phòng trừ dịch hại nên hầu hết các ruộng trồng đu đủ Carinosa đều đạt hiệu quả kinh tế cao", anh Công nhấn mạnh. Theo tìm hiểu, giống đu đủ F1 Carinosa hiện đang được trồng rộng rãi ở nhiều địa phương. Tại ĐBSCL có tỉnh Tiền Giang, Long An, Cần Thơ; tại khu vực Đông Nam bộ có tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương; còn tại miền Trung là tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa, Quãng Ngãi, TP Đà Nẵng... Với đặc điểm có vị ngọt đậm, thịt chắc, dày thịt, thịt có màu vàng đẹp và đặc biệt là chịu được vận chuyển xa và bảo quản được lâu nên được thương lái và người tiêu dùng rất ưa chuộng. Trọng lượng trái vừa phải, bình quân 1,5 - 2,5 kg/trái rất tiện lợi và phù hợp cho người tiêu dùng sử dụng ăn tươi và cung cấp cho các nhà máy chế biến. ...
(nguồn::nông nghiệp)

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

BO quan trọng đối với cây trồng đến mức nào,sử dụng sao cho hiệu quả?

Vai trò của Bo đối với cây trồng:
Tuy nhu cầu Bo trên cây trồng là thấp hơn so với tất cả các vi lượng thiết yếu khác, ngoại trừ molypden, nhưng vai trò của Bo là không thể thiếu trên các loại cây trồng. Hiện tượng thiếu Bo là rất phổ biến trên thế giới. Rất nhiều loại cây ăn quả, cây rau, và các hoa màu khác có biểu hiện thiếu Bo. Cây cọ dầu đặc biệt mẫn cảm với hiện tượng thiếu Bo. Các loại đậu lấy hạt có yêu cầu cao về Bo.

Theo Fageria và Gheyi (1999), các vai trò trọng của Bo trong cây là: Bo cần thiết cho sự nảy mầm của hạt phấn và tăng trưởng của ống phấn, rất cần thiết cho sự hình thành tế bào và hạt giống. Bo cũng hình thành nên các phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein. Bo đóng một vai trò quan trọng trong vận chuyển chất dinh dưỡng bởi tác dụng tăng khả năng thấm ở màng tế bào. Bo tham gia vào quá trình chuyển hóa N và P, tăng số lượng các cụm hoa trong các loại đậu, tăng tỷ lệ nảy mần của hạt giống. Bo có tầm quan trọng đáng kể trong quá trình tổng hợp axit nucleic.

Khi thiếu Bo, tổng hợp cytokinin bị suy giảm, trong các cây không được cung cấp đủ Bo thì NO3- tích lũy trong rễ, lá, thân, cành, điều đó cho thấy tổng hợp NO3- giảm và acid amin bị ức chế (Brown và Hu, 1997).
Ngưỡng giới hạn mức Bo tối ưu và mức gây độc của B trong cây trồng rất thấp. Do đó, cần thận trọng trong việc bón phân hóa học để bổ sung B. Trong một số cây trồng, các triệu chứng có thể nhìn thấy điển hình của ngộ độc B bao gồm hiện tượng cháy lá, thường là ở mép và ở đỉnh của các lá (Eraslan và cộng sự, 2007). Triệu chứng thiếu B được thể hiện trên bề mặt lá thường có những đốm nhỏ màu vàng trắng, lá bị biến dạng. Có khi đỉnh sinh trưởng bị chết làm cây mọc thêm nhiều chồi bên. Xuất hiện nhiều vết rạn nứt trên thân và cuống quả. Thiếu Bo làm hoa kém phát triển, sức sống hạt phấn kém, quả non dễ bị rụng. Rễ cây kém phát triển.
Bo trong cây trồng:
Hàm lượng Bo rất khác biệt giữa các loại cây. Hàm lượng Bo trong các cây một lá mầm thường thấp hơn các cây hai lá mầm. Trong cây, hàm lượng Bo trong lá thường cao hơn thân. Bo trong cây giảm dần theo thời gian sinh trưởng (Fageria và cộng sự, 2006). Nồng độ B trong lúa thay đổi theo của tuổi cây khoảng 9 mg/kg ở 19 ngày sau khi gieo và giảm xuống còn 8 mg/kg ở 130 ngày sau khi gieo. Cây thiếu B khi nồng độ trong lá trưởng thành < 15 mg/kg. Mức độ phù hợp của Bo trong cây trồng trong khoảng 20-100 mg/kg trọng lượng khô (Fageria, 1992).
 
Tác động của Bo đối với cây trồng:
Ngộ độc Bo trên cây trồng có thể xuất hiện ở những vùng đất khô hạn và vùng đất mặn. Bón nhiều tro cũng là nguyên nhân gây ngộ độc cây ở nhiều vùng. Khi bón B với lượng cao dẫn đến giảm sự hấp thu của Zn, Fe, Mn nhưng tăng sự hấp thu của Cu (Fageria và cộng sự, 2002). Lượng Ca và Mg cao có thể làm giảm sự hấp thu Bo. Ảnh hưởng của lân và lưu huỳnh trên sự hấp thu Bo là không rõ ràng. Thiếu kẽm tăng cường tích lũy B (Graham và cộng sự, 1987), Zn có tác dụng giảm tích lũy và độc tính của B trên cây trồng (Moraghan và Mascagni, 1991; Swietlik, 1995). Thiếu Bo làm giảm khả năng hút lân của các cây họ đậu (Robertson và Loughman, 1974) và giảm sự hấp thu của Mn và Zn trên cây bông (Ohki, 1975). Bo trở thành độc hại đối với ngô khi trồng trong điều kiện thiếu lân, và việc bón lân có tác dụng làm giảm bớt độc tính Bo (Gunes và Alpaslan, 2000). Kiềm hóa bằng cách bón vôi là biện pháp khắc phục tình trạng ngộ độc Bo với cây trồng. Bón thêm silic cũng có tác dụng ngăn cản sự hấp thu Bo của cây từ đó làm giảm tình trạng ngộ độc cho cây trồng.

Sử dụng phân Bo:
Khắc phục hiện tượng thiếu hụt Bo bằng cách bón phân Bo vào đất hoặc phun qua lá.Tuy nhiên, bón lót bằng cách rải đều hay bón thúc B vào đất có hiệu quả hơn so với phun trên lá ở cây hàng năm. Phun phân Bo qua lá rất hiệu quả với cây ăn quả, phun Bo thực hiện vào các thời điểm: chồi đang ngủ, bắt đầu nảy chồi mới và khi lá đã phát triển đầy đủ (Chu Thị Thơm, 2006).
Theo Martens và Westermann (1991), các cây họ đậu và cây lấy củ cần 2-4 kg B/ha, trong khi các cây trồng khác cần lượng B tối đa thấp hơn. Theo Fageria (2000), Lượng B cân đối là 2 kg/ha cho cây đậu, khoảng 4,7 kg/ha đối với ngô và 3,4 kg/ha cho đậu tương. Lượng B gây ngộ độc ở lúa là 4,4 kg B/ha, cây đậu là 8,7 kg B/ha, đối với ngô là 6,8 kg B/ha, và 7,4 kg B/ha cho lúa mì.
Sử dụng phân SITTO-V siêu Calci-Bo bón bổ sung để ngăn ngừa tình trạng thiếu Bo trên cây trồng nhất là ở các vùng đất có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
- Với một số loại cây rất mẫn cảm với Bo (dễ bị ngộ độc ở liều cao) như cây họ bầu bí (dưa hấu, cà chua, dưa leo, bầu, bí…), cây có múi, nho, dâu tây…thì bón Bo liều thấp, khoảng 12 – 25 kg SITTO-V siêu Calci-Bo/ha/vụ.
- Với các loại cây lấy củ và đường bột (khoai các loại, cà rốt, củ cải, mía, lúa, bắp…) bón với lượng 25 – 50 kg SITTO-V siêu Calci-Bo/ha/vụ.
- Với các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn trái nên bón khoảng 50 – 60 kg SITTO-V siêu Calci-Bo/ha/vụ.
Trong trường hợp cần khắc phục tình trạng thiếu B nhanh thì phun lên lá sản phẩm Calcium-Boron 2 – 3 lần. Mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.
Lưu ý tùy theo loại đất, loại cây trồng và tình hình sinh trưởng của cây mà bà con bón ít hay nhiều hơn lượng phân Bo đã khuyến cáo.
 
Sự ngộ độc Bo phổ biến ở xoài với các triệu chứng đặc trưng hiện diện ở lá như các đốm sẫm màu trên rìa lá mà kết hợp thành khối, cuối cùng dẫn đến tình trạng hoại tử rìa lá ở nhiều trường hợp. Ngộ độc Bo thường xẩy ra sau việc áp dụng các loại phân Bo quá mức, các triệu chứng có thể được giải quyết thông qua việc lọc rửa vùng rễ, nâng cao pH đất với việc áp dụng vôi hoặc kích thích sự tăng trưởng thông qua việc áp dụng N; Tuy nhiên, những biện pháp này có thể có các liên quan khác đối với việc sản xuất cây trồng.
       (theo: ThS. Phan Thúc Định-Công ty TNHH Sitto Việt Nam)

Giảo cổ lam tốt đến mức nào và được sử dụng ra sao?

(Trang trại xanh Ngọc Linh)-Giảo cổ lam hay còn được gọi là Cỏ Thần kỳ, Ngũ diệp sâm, cây Trường thọ...(Tên khoa học Gynostemma pentaphyllum Cucurbitaceae). Sau khi trải qua nhiều đề tài nghiên cứu tại các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam... Giảo cổ Lam đã chứng minh được công dụng tuyệt vời của nó trong công cuộc nâng tuổi thọ và phòng ngừa nhiều căn bệnh nguy hiểm. Ở bài viết này chúng tôi xin tóm tắt lại đầy đủ các công dụng của cây thuốc trên. 

Giảo cổ lam 

Giảo cổ lam

Công dụng của giảo cổ lam

  • Làm hạ mỡ máu, nhất là giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, chống huyết khối và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não.
  • Chống lão hoá mạnh, giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực và tăng khả năng làm việc.
  • Tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của khối u một cách rõ rệt.
  • Giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc, tăng cường máu lên não, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở người già.
  • Rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc của gan, làm giảm béo.
  • Hạ đường huyết và phòng ngừa các biến chứng của bệnh tiểu đường.

Đối tượng sử dụng

  • Người huyết áp cao, thiểu năng tuần hoàn não
  • Người bị béo phì
  • Bệnh về tim mạch, mỡ máu
  • Bệnh nhân tiểu đường tuýp II
  • Bệnh nhân mệt mỏi căng thẳng, khó ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, di chứng sau tai biến mạch máu não.
  • Các đối tượng muốn tăng cường sức đề kháng

Tại sao nên dùng Giảo cổ lam hàng ngày.

  • Giảo cổ lam là dược liệu đã được nghiên cứu kỹ lưỡng không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới bởi các GS.TS đầu ngành trong lĩnh vực y dược. Giảo cổ lam là dược liệu không có độc tính, có thể sử dụng lâu dài và không ảnh hưởng đến chức năng sinh lý.
  • Dùng Giảo cổ lam hàng ngày sẽ giúp cơ thể trẻ lâu, tăng khả năng làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ. Đặc biệt làm tăng miễn dịch giúp cơ thể chống lại các tác nhân có hại, làm ổn định huyết áp và đường huyết, giảm mỡ máu, ngăn ngừa suy nhược cơ thể, thiếu máu não, giúp ăn ngon, ngủ tốt và giúp ngăn cản sự hình thành và phát triển của các khối u …
  • Khác với các thuốc tân dược, Giảo cổ lam tuy không làm hạ huyết áp, mỡ máu, đường máu nhanh và mạnh bằng thuốc tân dược nhưng lại tác động vào căn nguyên của bệnh, đó là sửa chữa tổn thương ở tế bào, do đó giúp duy trì sự ổn định và bảo vệ các cơ quan khác, giải độc cơ thể mạnh (các thuốc tân dược thường có nhiều tác dụng phụ như làm tăng men gan, liệt cơ…). Dùng Giảo cổ lam một thời gian sẽ đỡ lệ thuộc thuốc tân dược và ổn định sức khỏe.
  • (Tổng hợp)
  • Hiện tại trang trại xanh Ngọc Linh được ủy quyền là cơ sở duy nhất của gia đình cụ Bế thị Vẻ người dân tộc  tầy ở Thang Lũng -Ngọc Động -Quảng Uyên -Cao Bằng.
  • Giảo cổ lam của gia đình cụ thu hái và chế biến hoàn toàn tự nhiên trên ngọn núi đá Thang Lũng với số lượng rất có hạn.
  • Các bạn quan tâm tới trà thảo dược Giảo cổ Lam tự nhiên chính hiệu từ Cao Bằng xin liên hệ tới trang trại xanh Ngọc Linh để được hướng dẫn mua và sử dụng. 
  • Liên hệ:Nguyễn văn Mạc/ đt:0976785284. 

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Chất tạo nạc tràn lan sử dụng trong chăn nuôi lợn.

(TRang trại xanh Ngọc Linh)-Mặc dù các cơ quan chức năng đã nghiêm cấm sử dụng chất tạo nạc trong chăn nuôi, thế nhưng câu hỏi đặt ra là vì sao những chất này vẫn xuất hiện nhan nhản trên thị trường?
Một trại chăn nuôi heo lớn ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai bị phát hiện có mẫu dương tính với chất tạo nạc - Ảnh: A Lộc

Các chủ trang trại, dù ở vùng sâu vùng xa, nếu có nhu cầu vẫn có thể tìm mua dễ dàng.
Sau khi Đồng Nai công bố xử lý các trang trại sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, ngày 2-8 PV Tuổi Trẻ đã tiếp cận một số trang trại và các điểm bán thức ăn chăn nuôi hỏi chất tạo nạc thì hầu hết đều e dè với câu trả lời “không biết, không bán”. Thế nhưng, nếu là người trong nghề chăn nuôi sẽ không khó để có mặt hàng này.
Khi chất tạo nạc giống như ma túy, nó gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng thì phải tính toán sửa luật, phải xử lý hình sự mới giải quyết được tận gốc vấn đề chất tạo nạc đang mua bán tràn lan
Ông PHẠM MINH ĐẠO(giám đốc Sở Nông nghiệp và 
phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai)
Cho bán thiếu
Tiếp tục đi vào vùng chăn nuôi lớn ở huyện Thống Nhất, chúng tôi được một chủ trại tên P., người có đàn heo 800 con, đã quyết định “nói ra sự thật” về tình trạng một số trại sử dụng chất cấm trong chăn nuôi heo hiện nay. Theo anh P., trước đây trại của anh mua cám chăn nuôi và chăm sóc theo quy trình thông thường nhưng giá bán heo vẫn không thể nào bằng một số trại lân cận. Tìm hiểu, anh P. mới biết họ trộn chất cấm để tạo nạc cho heo chất lượng, xuất chuồng nhanh. Sau đó, anh P. cũng được thương lái vào chào mời thuốc tạo nạc nhưng lương tâm day dứt, lo ngại bị cơ quan chức năng phát hiện nên anh từ chối nhiều lần.
“Cuối cùng giá cả thức ăn, con giống, thị trường bấp bênh nên tôi cũng đầu hàng, mua thuốc về pha trộn vào cám nuôi mới có lời” - anh P. kể lại. Khi đó, có thương lái đến tận trại giới thiệu chất tạo nạc nhưng cũng có khi đại lý quen mặt rồi giới thiệu “thuốc” và cho nợ lại, bán heo xong mới trả.
“Nếu heo nuôi không dùng chất tạo nạc, giá bán chỉ 42.000 đồng/kg. Trong khi bỏ thêm tiền mua chất cấm, nuôi heo đẹp, lái mua tới 48.000 
đồng/kg nên nhiều người đều chọn cách này!” - anh P. nói về lý do chọn sử dụng chất cấm.
Theo chủ một trại nuôi heo tại Trảng Bom, chất tạo nạc dù bị cấm nhưng trên thị trường nếu ai có nhu cầu vẫn dễ dàng tìm mua. “Tất nhiên người ta không bán công khai, nhưng chỉ cần có người quen giới thiệu là mua được hết, bao nhiêu cũng có”.
Vẫn theo chủ trang trại này, nếu người nuôi “ngại” không muốn đi mua, các thương lái sẽ mua giúp và đưa đến tận trại để người nuôi trộn vào cám cho heo ăn. “Một con heo bán ra nếu dùng thuốc sẽ có thêm 100.000 - 200.000 đồng. Việc này vừa qua nhiều người làm rồi, chỉ khi cơ quan chức năng có đợt kiểm tra thì mới bị phát hiện thôi” - vị chủ trại này cho hay.
Trong khi đó, một đại lý kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thú y tại phường Trảng Dài (TP Biên Hòa) khẳng định nếu quen biết có thể mua chất tạo nạc từ một số nơi kinh doanh vật tư nông nghiệp. Đa số chất tạo nạc cấm này đều có nguồn gốc từ Trung Quốc và đựng trong các túi nhỏ màu trắng không đề nhãn mác với khối lượng từ 100g - 1kg. Giá bán loại chất cấm này khá đắt, với loại nguyên chất đậm đặc dao động từ 1,5 - 2 triệu đồng/100 gam (15 - 17 triệu đồng/kg).
Tuy nhiên, do tỉ lệ pha trộn với thức ăn chăn nuôi lớn nên đưa giá thành lên không đáng kể nhưng lợi nhuận rất hấp dẫn. “Với mỗi ký chất cấm đậm đặc có thể pha trộn với 100 tấn thức ăn chăn nuôi.
Tức với trại nhỏ chỉ cần mua gói 100 gam nguyên chất là đủ cho 10 tấn thức ăn cả tháng rồi. Nếu pha với tỉ lệ lớn hơn thì có thể làm heo bị chết hoặc gãy xương” - đại lý này nói.
Ông Phạm Đức Bình, phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cho rằng những người sử dụng chất này nhắm vào xu hướng người tiêu dùng sợ mỡ, thích heo nhiều nạc. “Vấn đề cần đặt ra là tại sao là chất cấm mà dễ mua, người ta dễ sử dụng trong thời gian dài đến thế?”, ông Bình thắc mắc.
Theo ông Bình, chất cấm tức là không được buôn bán chính thức nên hàng tiêu thụ trong dân toàn là hàng nhập lậu cả. Thế nhưng các cơ quan chức năng trước nay hầu như không phát hiện vụ việc buôn bán nào lớn, chủ yếu phát hiện từ các chủ trại rồi xử phạt hành chính, niêm phong trại mấy ngày rồi thả nên không hiệu quả.
Một trang trại heo quy mô lớn tại huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) có mẫu xét nghiệm dương tính với chất tạo nạc - Ảnh: A Lộc
Một trang trại heo quy mô lớn tại huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) có mẫu xét nghiệm dương tính với chất tạo nạc - Ảnh: A Lộc
Nghi ngờ nhập lậu
Ở góc độ quản lý chuyên ngành, đại diện Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho rằng việc chất tạo nạc xuất hiện trên thị trường rất có thể từ nguồn nhập lậu. “Salbutamol và clenbuterol - các chất có tác dụng tạo nạc ở heo - hiện sử dụng tại các khoa hô hấp như hoạt chất điều trị hen, phổi tắc nghẽn mãn tính...
Việc mua bán sử dụng cũng như liều dùng, thời gian dùng phải có chỉ định chặt chẽ của bác sĩ. Đặc biệt, từ năm 2002 bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cấm sử dụng các chất này trong thức ăn chăn nuôi.
Muốn nhập khẩu salbutamol và clenbuterol làm thuốc chữa bệnh phải tuân thủ chặt chẽ Luật dược và nghị định hướng dẫn thực hiện Luật dược. Việc mặt hàng này xuất hiện trên thị trường nhiều như vừa qua có thể là hàng nhập lậu” - ông Nguyễn Thanh Phong, cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, đặt nghi vấn.
Theo ông Phong, chưa thể đánh giá ngay tác hại của salbutamol, clenbuterol với người sử dụng thịt heo được nuôi bằng chất tạo nạc, vì còn cần thêm yếu tố như lượng thịt sử dụng, thời gian, mức độ tồn dư... Tuy nhiên chắc chắn có ảnh hưởng tới sức khỏe.
“Hành vi sử dụng chất tạo nạc trong chăn nuôi heo giống trộn kháng sinh cấm vào thức ăn chăn nuôi, hay dùng chloramphenicol trong nuôi trồng thủy sản, sử dụng hàn the làm giò chả... cần phải xử phạt mạnh mới ngăn chặn được tình trạng này” - ông Phong cho biết.
Heo siêu nạc 
sẽ không có lớp mỡ
Bà Đỗ Thu Hương, tiểu thương chợ Bàu Cát (Q.Tân Bình, TP.HCM), cho biết người tiêu dùng nhận biết heo siêu nạc không quá khó. Điểm dễ dàng nhận thấy chính là lớp mỡ nằm giữa lớp da và phần thịt nạc thường không có.
Đối với thịt heo được nuôi bình thường lớp mỡ heo dày tối thiểu 1 - 3cm, trong khi heo siêu nạc thường không có lớp mỡ đệm này. Đó là điểm nhận biết cơ bản, ngoài ra về màu sắc cũng như mùi vị gần như không có sự khác biệt nên khó có thể nhận ra.
Theo bà Hương, hiện nay loại heo siêu nạc bán tại các chợ gần như rất ít vì người tiêu dùng hiện nay có thể phát hiện dễ dàng. Vì vậy, loại thịt này thường được bán cho các nhà hàng, quán ăn hay các cơ sở, công ty chế biến các loại thực phẩm đóng gói hay giò chả, thịt xay...
Trong khi đó, theo ông Văn Đức Mười - tổng giám đốc Vissan, cần phải phân biệt rõ heo siêu nạc dùng thuốc và heo siêu nạc phụ thuộc vào con giống. Đối với heo siêu nạc do con giống là sản phẩm an toàn, còn heo siêu nạc dùng thuốc mới thật sự đáng lo ngại.
Với mùi vị, chất lượng gần như khó nhận ra được đối với thực phẩm chế biến nên ông Mười cho biết chỉ còn cách kiểm soát từ đầu nguồn mới có thể đảm bảo an toàn, chứ sản phẩm đến tay người tiêu dùng gần như không thể phân biệt được.
Đang xử lý phần ngọn
Theo ông Phạm Minh Đạo - giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, vấn đề chất tạo nạc mà tỉnh Đồng Nai và các tỉnh thành khác đang nỗ lực chấn chỉnh “chỉ giải quyết phần ngọn”. Bởi vấn đề lớn nhất là việc quản lý các chất này khi cho phép nhập vào VN, có sử dụng đúng mục đích không? Nếu nguồn nhập lậu thì xử lý như thế nào để ngăn chặn?
(Tổng hợp:báo tuổi trẻ)

Hội nhập TPP và AEC: Bất lợi cho ngành chăn nuôi?

(Trang trại xanh Ngọc Linh)-Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Bộ NN&PTNT Tống Xuân Chinh, ngành chăn nuôi sẽ gặp nhiều khó khăn khi Hiệp định Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) có hiệu lực.

Khó cạnh trạnh với Úc và Mỹ
Ông Chinh cho biết, hiện tại Mỹ là trong trong những nước có điều kiện kinh tế, khoa học công nghệ cũng như là sản phẩm giống, thức ăn chăn nuôi rất là lớn và chăn nuôi gà công nghiệp rất là phát triển vì vậy giá thành sản xuất rất là rẻ và rất cạnh tranh so với sản phẩm của Việt Nam. 
"Tôi vừa nghiên cứu 1 báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, gà công nghiệp lông trắng của Việt Nam có giá 29-30 nghìn đồng/kg gà hơi. Trong khi đó, giá đùi gà Mỹ nhập khẩu trên thị trường Việt Nam hiện khoảng 20 nghìn đồng/kg. Từ đó, có thể thấy sức cạnh tranh của gà công nghiệp sản xuất tại Việt Nam sẽ ở mức nào sau khi gia nhập TPP", ông Chinh dẫn chứng.
Theo ông Chinh, để tạo ra sức cạnh tranh hơn và chống chọi với các Hiệp định tự do thương mại, đối với ngành chăn nuôi và đối với sản phẩm gia cầm thì cần phải thực hiện cải cách theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. 
"Trước hết, chúng ta phải loại bỏ được một số khâu trung gian liên quan đến làm tăng giá thành. Ví dụ như 6-7% về giống, 9-10% về thức ăn chăn nuôi, các khâu trung gian về giết mổ 8-12%, cộng lại rồi so sánh với các sản phẩm của nước ngoài thì chúng ta thấy nó rất là lớn các khâu trung gian của chúng ta như vậy", ông Chinh chia sẻ.
"Tiếp theo, Việt Nam phải mở rộng quy mô, đối với chung ta chăn nuôi vẫn còn trên 50% sản phẩm gia cầm từ chăn nuôi nông hộ, chính vì vậy để đảm bảo mở rộng quy mô thì phải giúp cho người dân tiếp cận được nguồn vốn, tiếp cận được đất đai để mở rộng sản xuất, đồng thời phải hỗ trợ cho người chăn nuôi gia cầm liên kết sản xuất lại thông qua các hình thức như tổ hợp tác, đội hợp tác, hợp tác xã, để thông qua đó họ có quy mô lớn hơn, có sức cạnh tranh lớn hơn và người ta mua được các sản phẩm đầu vào với một giá thành cạnh tranh hơn và bán được sản phẩm phù hợp hơn trong việc mặc cả với các đối tác thu mua trên thị trường", ông Chinh chia sẻ thêm.
Cũng theo vị Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, trong thời gian tới Việt Nam cũng phải chủ động dần các nguồn thức ăn chăn nuôi để phục vụ cho chăn nuôi gia cầm. 65-70% giá thành thức ăn chăn nuôi đóng góp cho các sản phẩm gia cầm và các sản phẩm khác cho nên khi chúng ta bình ổn và hạ được giá thành thức ăn chăn nuôi thì nó đóng góp rất lớn cho việc hạ giá thành sản phẩm. 
"Chúng ta cắt được các khâu trung gian về giống, về thức ăn chăn nuôi rồi về thu mua các sản phẩm, thì đây là một bước rất quan trọng để chúng ta tạm thời có thể giảm cái giá thành sản xuất và nâng cái sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi", ông Chinh nhận định.
Cần có giải pháp kịp thời
 Theo ông Tống Xuân Chinh, khi tham gia vào TPP và AEC, ở góc độ kinh tế vĩ mô thì các nước tham gia đều có lợi. Tuy nhiên, đứng trên góc độ từng ngành thì lại có tác động nhất định và đối với ngành chăn nuôi được đánh giá là ngành có bất lợi nhất đối với Việt Nam khi tham gia TPP và AEC.
Tuy nhiên, ông Chinh cũng cho biết, Việt Nam còn đủ thời gian và ngay từ bây giờ phải có sự chuẩn bị đối phó với các hiệp định tự do thương mại bằng việc thực hiện tốt cải cách trong ngành chăn nuôi, tổ chức lại để mà giảm được cái giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh lên. 
"Một cách thông thường, ngoài hàng rào thuế thì chúng ta cũng phải áp dụng các hàng rào kỹ thuật đối với Việt Nam. Tuy nhiên hàng rào kỹ thuật đòi hỏi phải có các phòng thí nghiệm rất là chuẩn, có khoa học và công nghệ để chúng ta đảm bảo rằng tất cả các mặt hàng nhập khẩu về Việt Nam đặc biệt là các loại thực phẩm từ gia cầm, thịt lợn, thịt bò phải đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm thì đây là cái rất quan trọng để chúng ta thực hiện", ông Chinh nhận định.
Cũng theo ông Chinh, ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải khẩn trương để thực hiện những đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi để góp phần đưa những sản phẩm của Việt Nam cạnh tranh được với các nước khác. Các sản phẩm về vịt, trứng vịt, các sản phẩm lợn có giá trị cao, các sản phẩm thịt lợn của chúng ta vấn có thể cạnh tranh được ngay trên sân nhà.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn đầu tư cho ngành chăn nuôi đang là một hy vọng để các doanh nghiệp này có trình độ KHCN cũng như vốn liếng, quy trình sản xuất hiện đại thì đây là những doanh nghiệp tương lai có đủ các sản phẩm để cạnh tranh với hàng nhập khẩu thí dụ như Vinamilk, TH, HAGL, Đức Long Gia Lai, đấy là những công ty lớn như vậy thì thực sự là niếm hy vọng cho ngành chăn nuôi sau này. 
Còn lại ở quy mô chăn nuôi nông hộ Việt Nam cũng cần phải có những chính sách để tiếp tục giúp đỡ người dân để tránh được những cú sốc tạm thời trong quá trình hội nhập.
(Tổng hợp)

Phân giun quế tốt đến mức nào,chúng ta cùng tìm hiểu về phân giun .

(Trang trại xanh Ngọc Linh)-Phân giun là loại phân hữu cơ 100 %, là một loại phân thiên nhiên giàu dinh dưỡng nhất mà con người từng biết đến.
phân giun
                                                Phân giun nguyên chất:4000đ/1kg đối với phân mới khai thác và 6000đ/1kg đối với phân đã sử lý độ ẩm!  
Phân giun chứa đựng một hỗn hợp vi sinh có hoạt tính cao, là chất xúc tác sinh học, phần cặn bã của cây trồng và phân động vật cũng như kén giun rất giàu chất dinh dưỡng, dễ hòa tan trong nước, chứa hơn 50 % chất mùn. Do đó phân giun không chỉ kích thích tăng trưởng cây trồng mà còn tăng khả năng cải tạo đất và còn có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ.
 Phân giun còn chứa các khoáng chất cho cây như: Nitrát, Photpho, Magne, Kali, Calci, Nitơ.... Đặc biệt là các khoáng chất này lại được cây trồng hấp thụ một cách trực tiêp; không như những lọai phân hữu cơ khác phải được phân hủy trong đất trước khi cây hấp thụ. Sẽ không có bất cứ rủi ro, cháy cây nào xảy ra khi bón phân giun.
   Chất mùn trong phân giun loại trừ những độc tố, nấm có hại và vi khuẩn trong đất nên nó có thể đẩy lùi những bệnh của cây trồng.

     Phân giun gia tăng khả năng giữ nước của đất vì phân giun có dạng hình khối, nó là những cụm khoáng chất  kết hợp theo cách mà chúng có thể để chống  sự xói mòn và sự va chạm cũng như gia tăng khả năng giữ nước.
  Phân giun làm gỉảm hàm lượng dạng Acid carbon trong đất và gia tăng nồng độ Nitơ trong một trạng thái cây trồng có thể hấp thụ được.
 Acid humic ở trong phân giun kích thích sự phát triển cây trồng thậm chí ngay cả ở nồng độ thấp. Bởi vì Acid humic ở trong trạng thái được phân bố về mặt ion mà trong đó chúng có thể dễ dàng hấp thụ bởi cây trồng nhiều hơn bất kỳ chất dinh dưỡng nào khác.
IAA (Indol Acetic Acid) có trong phân giun là một trong những chất kích thích hữu hiệu giúp cây trồng tăng trưởng tốt.

      Phân giun có nồng độ PH = 7 nên nó hoạt động như một rào cản, giúp  cây phát triển trong đất  mà ở đó có nồng độ PH quá cao hoặc quá thấp.
 CÁCH SỬ DỤNG PHÂN GIUN
   Cho sự nẩy mầm: Dùng 20 – 30 % phân giun trộn với đất, xem như một hỗn hợp nẩy mầm tốt nhất đảm bảo cho cây phát triển không ngừng trong 3 tháng mà không cần bất cứ thức ăn nào khác. Có khả năng làm tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt, giúp cây con phát triển nhanh và có tỷ lệ sống cao.

      Như là chất điều hòa chất: nếu bạn bỏ phân giun và tưới nước thường xuyên vào một vùng đất cằn cỗi  đã được cuốc lên, thì lớp đất này sẽ được cải tạo đáng kể (2000 – 2500 kg /ha).
   Như là phân bón: Bỏ trực tiếp phân giun quanh gốc cây (không gây hư hại cây nếu sử dụng nhiều) bón lót cho cây, rau, quả các loại sẽ tạo ra một loại thực phẩm hảo hạng và đạt năng suất cao.
   Như chất phân bón lỏng: Có thể pha trộn với nước theo tỷ lệ 1/5, hỗn hợp chất lỏng này có thể sử dụng như một loại phân bón hảo hạng và có khả năng kiểm soát sâu bọ khi phun trực tiếp vào thân, lá.

   Như là nhà cải tạo đất: Vì phân giun chứa đựng hàng ngàn kén giun /kg nên khi ta bón phân giun vào đất, gặp điều kiện thuận lợi, kén giun sẽ nở ra và sinh sống trên chính mảnh đất canh tác của chúng ta - mà chúng ta ai cũng biết nơi nào có giun sinh sống thì nơi đó đất luôn mầu mỡ và tơi xốp.
......................................
Trang trại xanh Ngọc Linh cung cấp phân giun quế nguyên chất giá từ 4000đ-6000đ/1kg

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Bệnh viêm gan vịt, ngan do virus

(Tư vấn bởi PGS-TS LÊ VĂN NĂM)
Bệnh viêm gan vịt, ngan do virus (Hepatitis virosa anaticulorum, hepatitis anatum, duck virus hepatitis)
1. Giới thiệu

Viêm gan vịt, ngan là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra bất ngờ, lây lan nhanh với các triệu chứng bồn chồn, bỗng dưng ngã nằm ngửa hoặc nghiêng, chân đạp liên hồi trong không khí, đầu ngoặt ngược ra sau lưng rồi chết, tỷ lệ chết đến 100%.
2. Nguyên nhân
Do 1 loại virus ARN Picornavirus typ 1,2,3 gây ra.
3. Loài gia cầm mắc bệnh
- Chủ yếu ở vịt, ngỗng, ngan cũng bị viêm gan nhưng mức độ nhẹ hơn.
- Thủy cẩm hoang dại và chim hoang là vật mang trùng.
4. Tuổi gia cầm mắc bệnh
- Bệnh thường xảy ra ở vịt, ngan, ngỗng từ 1- 7 tuần tuổi.
- Ở cơ sở chăn nuôi liên tục thì càng về sau tuổi bị bệnh càng xuống thấp (lứa đầu bệnh xảy ra ở vịt 45- 50 ngày tuổi, lứa 2 bệnh phát ra lúc 30- 35 ngày tuổi, lứa 3 bệnh xảy ra lúc 14- 20 ngày tuổi, đến lứa 4 thì bệnh xảy ra lúc mới nở đến 10 ngày tuổi).
5. Mùa phát bệnh
Bệnh có thể xảy ra quanh năm.
6. Đường lây truyền
Bệnh chỉ truyền ngang qua đường miệng và hô hấp, bệnh không truyền dọc từ mẹ sang con (không truyền qua phôi trứng).
7. Triệu chứng
- Thời kỳ ủ bệnh ngắn 1h- 3 ngày.
- Bệnh xuất hiện bất ngờ và nhanh, chỉ 1-3h đã có nhiều vịt, ngan mắc bệnh.
- Tỷ lệ bệnh rất cao ở vịt dưới 4 tuần tuổi, ở vịt, ngan 1 tuần tuổi có tới 95% , 2-3 tuần tuổi đến 50% số vịt ngan mắc bệnh và chết.
- Vịt, ngan rất muốn ăn, nhưng không nuốt mà chúng lắc đầu vảy thức ăn ra ngoài, sốt cao và ngã lăn ra dất nằm ngửa hoặc nghiêng, hai chân bơi đạp vào không khí liên tục, đầu ngoặt ngửa ra sau lưng, run rẩy, co giật.
- Tiêu chảy mạnh, phân xanh vàng hoặc vàng trắng.
- Chết nhanh sau 4- 12h mắc bệnh. Tỷ lệ chết rất cao phụ thuộc vào vịt, ngan và số lứa được nuôi trong cơ sở chăn nuôi ở vịt dưới 3 tuần tuổi, tý lệ chết luôn là 100%, đặc biệt là các lứa nuôi sau này.
8. Bệnh tích
- Ở vịt, gan sưng rất to, có màu loang lổ như đất sét vàng, dưới màng gan có thấy rất nhiều điểm hoặc mảng xuất huyết, nhưng bệnh tích này không có ở ngỗng và ngan.
- Túi mật căng, chứa đầy dịch mật.
- Lách đôi khi sưng to
- Cơ tim nhão và nhợt nhạt.
- Thể xác béo tốt.
- Viêm cata tiết dịch đến Fibrin ở đường tiêu hóa.
9. Điều trị
a. Nếu đàn ngan, vịt chưa được dùng vacxin viêm gan thì có thể dùng kháng thể chống viêm gan nhưng tốt nhất là tiêm thẳng vacxin viêm gan cho đàn vịt, ngan đang bị bệnh mỗi con 1 liều vacxin viêm gan, sau đó chúng uống toa thuốc theo 1 trong các phác đồ ở mục b.
b. Cho đàn vịt, ngan ăn hoặc uống thuốc
Phác đồ 1:
- T. Colivit hoặc T.Flox.C : 20h
- T.cúm gia súc hoặc Anti- Gum : 20g
- Giải độc gan, thận, lách TA: 40g
- Gluco.K.C.B2: 150g
Pha vào 20lit nước hoặc trộn cám rau xanh sạch được thái nhỏ chia 5 lần cho 100kg vịt, ngan ăn uống cả ngày, dùng 4- 5 ngày liên tục.
Phác đồ 2:
- T.Avimycin hoặc T.Umgiaca: 20g
- Giải độc gan: TA. Sorbitol +B12: 20g
- Super vitamin : 15g
- Gluco.C: 20g
Pha vào 15- 20 lít nước hoặc trộn cám rau xanh sạch được thái nhỏ chi 5 lần cho 100kg vịt, ngan ăn uống cả ngày, dùng 4- 5 ngày liên tục.
10. Phòng bệnh
Chủ động phòng viêm gan bằng vacxin : cho uống lần 1 lúc 1-3 ngày tuổi, lần 2 lúc 15- 18 ngày tuổi, mỗi con 1 liều vacxin với 0,3ml nước sinh lý.
(tổng hợp)