Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Đừng "đè đầu cưỡi cổ" người nông dân mà thu phí, lệ phí

TNL-Phải bỏ ngay các loại phí, lệ phí bất hợp lý chứ không nói xong rồi để đó.


Nếu thuế, phí và lệ phí không phù hợp lòng dân thì phải bỏ ngay, không còn thời gian để chần chừ nữa.
Đó là quan điểm dứt khoát của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khi nói về các loại thuế, phí trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thú y nói riêng tại hội nghị ngành chăn nuôi gà diễn ra ngày 21-8 ở Hà Nội.
Phải chấm dứt ngay
Liên quan đến những bất hợp lý trong việc thu phí thú y và một số loại phí liên quan khác, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định việc bỏ nhiều loại phí là cần thiết. Bộ NN&PTNT cũng đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính xem xét, quyết định bãi bỏ 31 loại phí, lệ phí liên quan đến lĩnh vực này vốn đang tạo ra gánh nặng cho doanh nghiệp (DN), người tiêu dùng và người chăn nuôi.
Bộ trưởng Cao Đức Phát còn thể hiện thái độ rất quyết liệt trong việc đề nghị các cục, vụ phải rà lại các phí và lệ phí một cách cụ thể và hành động thực sự chứ không thể nói xong rồi để đó.
“Ở đây phải hiểu rằng bỏ thu phí bất hợp lý chính là tháo gỡ khó khăn để ngành chăn nuôi phát triển hơn nữa. Nếu chúng ta kiểm tra xem xe (chở gia súc, gia cầm… - PV) có mang mầm mống dịch bệnh hay không, khi lấy ra một khay để kiểm dịch thì chỉ thu phí một khay, không thể thu phí cả trăm khay trên xe. Tương tự, quả trứng gà cũng vậy, kiểm dịch một quả thì phu phí một quả thôi chứ tại sao lại thu phí cả xe. Tôi yêu cầu phải chấn chỉnh ngay tình trạng này” - ông Phát nhấn mạnh.
Theo ông Phát, việc thu phí kiểm dịch kiểu như trên không phải là cách làm phục vụ nhân dân, đất nước. Cái gì không chính đáng, không phù hợp với lòng dân thì phải bỏ. Không thể cứ “đè đầu cưỡi cổ” dân ra để thu phí như thời gian qua và phải bỏ ngay kiểu làm như vậy.
Trước đó, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) 10-8, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cung cấp một con số khiến nhiều người choáng váng: “Riêng ngành nông nghiệp vừa qua đã rà soát bỏ nhiều loại song vẫn còn 937 khoản phí và 90 lệ phí. Con số này là quá lớn”.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám nói hiện nay Bộ NN&PTNT đã có đề xuất gửi Bộ Tài chính, UBTVQH … bãi bỏ những loại thuế, phí, lệ phí bất hợp lý trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, Bộ cũng đang tiếp tục tập hợp, thống kê lại các loại phí, lệ phí và thuế hiện có để có hướng xử lý phù hợp.
Cần phải sớm loại bỏ những loại thuế, phí, lệ phí không hợp lòng dân. Qua đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Trong ảnh: Kiểm dịch gia cầm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Ảnh: CTV
Dứt khoát “cởi trói”
Dư luận đã lên tiếng nhiều về tình trạng một quả trứng phải cõng 14 loại phí, lệ phí khác nhau. Không chỉ quả trứng mà nhiều sản phẩm khác cũng phải gánh một “rừng” phí. Trước thực trạng đáng buồn này, Bộ NN&PTNT, Bộ Tài chính đồng ý bãi bỏ nhiều loại phí, lệ phí liên quan đến thú y vì có sự trùng lắp, chồng chéo, đồng thời đề xuất bỏ Thông tư 04 về thu phí, lệ phí trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, nhiều địa phương cho rằng nếu bỏ phí, lệ phí trong thú y sẽ ảnh hưởng đến kinh phí hoạt động của ngành, đến việc kiểm dịch, nhất là trong điều kiện ngân sách khó khăn như hiện nay bởi các địa phương không thể bù đắp được.
Liên quan đến vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định không thể nói không thu phí thì sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm dịch; vấn đề là cái gì không hợp lý, không hợp lòng dân thì phải bỏ. “Đơn vị, địa phương nào để xảy ra dịch thì phải chịu trách nhiệm. Về ngân sách, nếu có khó khăn thì phải báo cáo để qua đó Bộ NN&PTNT phối hợp cơ quan chức năng và các địa phương có sự cân đối phù hợp” - ông Phát nhấn mạnh.
Cũng tại hội nghị này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hay có 18 chi cục thú y các tỉnh, thành đã có công văn không đồng ý bãi bỏ nhiều loại phí, lệ phí liên quan đến thú y. Nhưng theo quan điểm của Bộ trưởng Phát: “Việc rà soát, bỏ các loại phí không hợp lý là để ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi được “cởi trói”, phát triển và cạnh tranh với thị trường quốc tế”.
Chỗ nào cũng kiểm dịch làm sao chịu nổi
Hiện nay có rất nhiều thuế, phí, lệ phí vô lý. Nó lên tới hơn 1.000 loại khác nhau. Do vậy tôi không tiện liệt kê ra hết. Tuy nhiên, có mấy mảng phí, lệ phí thú y cần phải loại bỏ hoàn toàn, đồng thời phải rà soát để qua đó bỏ bớt đi nữa cho dân nhờ, không thể có tới một xấp biểu phí, lệ phí… dày như hiện nay.
Ví dụ: Trước khi cấp giấy chứng nhận liên quan đến thú y, cơ quan thú y thường phải tiến hành kiểm tra, khảo nghiệm, xét nghiệm, kiểm dịch, khử trùng, thẩm định… rồi chi phí vật tư, thiết bị. Chưa kể phần phí cũng cần phải loại bỏ, đặc biệt là các loại phí mang tính chất phục vụ lâm sàng. Nhiều loại giấy muốn được cấp phải trả tiền là không thể chấp nhận được, trong khi chúng ta đang khuyến khích ngành chăn nuôi phát triển.
Tôi thấy việc nhiều loại phí, lệ phí hiện nay chồng chéo, như người ta vận chuyển gia cầm từ chỗ này đến chỗ kia cũng bị kiểm dịch nhiều lần. Chẳng hạn như từ Nghĩa Đàn, Nghệ An ra đến huyện Như Thanh (Thanh Hóa) chỉ có vài chục cây số cũng bị kiểm dịch hai lần. Nên kiểm dịch một lần thôi để người dân, DN có thể di chuyển từ tỉnh này đến tỉnh khác, kể cả vào các tỉnh phía Nam hoặc ngược lại. Tỉnh nào cũng kiểm tra, kiểm dịch thì không ổn. Kiểm dịch giống gia cầm mà qua mỗi tỉnh kiểm một lần thì người dân, DN chịu sao nổi.
Ông LÊ BÁ LỊCH, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
Trong buổi thảo luận về dự án Luật Phí, lệ phí tại phiên họp UBTVQH ngày 10-8 vừa qua, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đã “kêu trời” về việc người nông dân đang gánh trên vai quá nhiều khoản phí. “Các đồng chí nhớ hôm chất vấn bộ trưởng Bộ NN&PTNT, đại biểu đã đề cập chuyện con gà, quả trứng bị thu mười mấy loại phí. Bộ trưởng thừa nhận đại biểu nói đúng, thu phí này, phí kia là không cần thiết. Một con gà mà bị đè ra thu đến 14 loại phí, trời đất ơi!”…
(Theo tin:báo pháp luật tphcm)

Vì sao người chăn nuôi "lỗ ",người tiêu dùng vẫn phải mua "giá cao"?

TNL- Nhiều doanh nghiệp chăn nuôi kêu lỗ một thời gian dài, người chăn nuôi lỗ 5.000 - 6.000 đồng/kg gà, nhưng người tiêu dùng vẫn đang phải mua sản phẩm với giá rất cao. Đây là một nghịch lý của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Trước thực trạng này, PV Dân trí đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam.

Thưa ông, hiện nay có thực trạng là người chăn nuôi và doanh nghiệp chăn nuôi đang lỗ nặng, giá bán sản phẩm rất rẻ và bị tồn đọng hàng, tuy nhiên, người tiêu dùng không được tiếp cận sản phẩm với giá thực mà vẫn phải trả giá rất cao. Đâu là nguyên nhân gây ra khoảng cách này?

- Tại thời điểm hiện nay, một số mặt hàng như thịt gà công nghiệp, trứng có giá bán rất thấp do khủng hoảng thừa và do ảnh hưởng của sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, điểm bất cập nhất là trong chuỗi phân phối lợi nhuận và tiêu thụ trong chuỗi sản xuất gà thì lợi nhuận của người sản xuất chỉ chiếm 5%, trong khi đó thương lái thu lợi nhuận 22%, người bán buôn bán lẻ trên 30-33%. Chính vì vậy, sản phẩm đến người tiêu dùng giá vẫn cao mặc dù giá mua tại chỗ thấp. Đấy chính là điểm nghẽn trong hệ thống sản xuất tiêu thụ của ngành chăn nuôi nói chung cũng như của ngành gia cầm nói riêng.

Vậy, làm thế nào để rút ngắn khoảng cách này?

- Theo tôi phải tổ chức lại sản xuất theo chuỗi. Phương thức chăn nuôi gia công cũng là sản xuất theo chuỗi, hợp tác xã liên kết doanh nghiệp cũng là một chuỗi, và thế giới sản xuất đều theo hợp đồng, mà có lẽ lâu dài để cạnh tranh được chúng ta cũng phải tổ chức sản xuất như vậy, chứ không phải phát triển chăn nuôi theo kiểu tự phát như lâu nay, dẫn đến khủng hoảng thừa và bùng nổ về sản lượng và không tiêu thụ được.

Để bảo hộ sản xuất trong nước, chúng ta cần có hàng rào kỹ thuật như thế nào?

- Nước nào cũng có những biện pháp kỹ thuật để bảo hộ cho sản xuất trong nước. Khi gia nhập các hiệp định thương mại của khu vực và thế giới, nước ta cũng vậy. Nhưng đã đến lúc các cơ quan quản lý cần nghiêm túc nghiên cứu để đề ra các biện pháp, các hàng rào kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu để bảo hộ cho sản xuất trong nước.

Tôi lấy ví dụ, khi một quốc gia xuất khẩu nào đó xảy ra dịch, lập tức chúng ta phải cấm nhập khẩu tại nơi có dịch, phải hành động ngay chứ không để quá trễ, quá trễ một vài tháng là sản phẩm của người ta đã xuất ra khỏi nước đó rồi. Thứ hai, cần nghiên cứu về thời gian bảo quản, phương pháp bảo quản để đưa ra các biện pháp kỹ thuật theo thông lệ quốc tế, theo tiêu chuẩn quốc tế để hạn chế sản phẩm chất lượng kém, sản phẩm gần hết hạn tràn vào nước ta.

Ông đánh giá như thế nào về hàng rào kỹ thuật hiện nay của Việt Nam?

- Có thể nói là còn yếu kém và chúng ta cần phấn đấu để vươn tới để khi vào sân chơi thế giới phải phấn đấu điều đó để đạt được hàng rào kỹ thuật như các nước đã làm.

Xin trân trọng cảm ơn ông!
(Theo tin:báo dân trí)

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Chuyện hai quả na và một quả chuối

Trồng Cây Gì ?
Dân gian có câu :
Trẻ trồng Na - Già trồng chuối
Ý nói :Khi còn trẻ Thì đầu tư cho dài hạn
( trồng Na 5 - 7 nắm thu ). Khi già thì đầu tư ngắn hạn ( trồng chuối 6 tháng có quả ).
Theo kinh nghiệm này nhiều nông dân trẻ đã hăng say trồng: Cao su, cà phê, Na, Nhãn, Vải...vv...,Hậu quả là: đến lúc bán được, thì hết sạch vốn, giá lại rẻ bằng cho không ngoại chợ.
Các cụ ông cũng không chịu nghỉ ngơi, vắt chút sức lực cuối cùng đi chồng chuối. Để rồi : cô vợ trẻ cùng anh hàng xóm phải kính cẩn đưa cả chuối và ông nên thờ nóc tủ.
Trước thực trạng này một nữ phóng viên trẻ ( PV) đã đến hỏi một chuyên gia ( xin được giấu tên)
PV: Anh có bình luận gì về hiện tượng này không ạ.
Chuyên gia: Cô có chồng chưa?
Pv: Dạ, Em có rồi, nhưng liên quan gì đâu ạ
Chuyên gia: Nếu lúc trẻ, khoẻ :chồng cô chỉ có 2 quả Na mà không có chuối, cô thích không ?
Pv: cười ngượng, lắc đầu.
Đến lúc già, anh ấy chỉ có 1 quả chuối và không còn Na thì sao nhỉ.Chuyên gia hỏi tiếp!
Pv: Vâng, bỏ đi, chứ làm được gì đâu ạ.
Chuyên gia: Vấn đề là ở chỗ đó: Làm nông nghiệp là phải biết thị trường cần gì, mà đầu tư cả ngắn lẫn dài cho phù hợp. Đó là cái thứ nhất.
PV: Vâng em hiểu rồi, Em sẽ hô hào trồng cả Na và Chuối
Chuyên gia: Nếu một ngày tự nhiên chồng cô có tới 3 quả Na và 2 quả chuối cô thấy thế nào
Pv: Thốt nên " Eo ơi, nhìn chết khiếp, Em chỉ cần 1 chuối 2 Na thôi ạ.
Chuyên gia: Đấy, cái thứ 2 là ở chỗ này. Phải định lượng, để làm tốt quy hoạch ngay từ đầu , tràn nan là vứt
Pv: Em hiểu rồi, Em tranh thủ về qua nhà rồi cho đăng bài ngay ạ
Chuyên gia: Khoan đã, Về giờ, Chồng em lại bầy Chuối và Na ra thì sao làm việc được
Pv: Không anh ạ, đang lúc công việc bù đầu, mệt chết, tâm trạng đâu
Chuyên gia: Thấy chưa, Yếu tố thứ 3 quyết định vẫn là thời điểm, Nông dân cũng phải biết khi nào thị trường cần, để đưa ra sản phẩm.
PV: Tuyệt vời: anh kiêm thêm mảng trồng trọt này nhé,. Em cho phát lên đài ngay ạ.
Chuyên gia: Nói vui thôi,.Cô thấy đấy. Mỗi ngày tôi phải tiếp mấy chục khách, trả lời vài trăm điện thoại cho cái www.vuonchimviet.com đã oải rồi . Còn phải để sức phục vụ..... chứ.
Đúng lúc đấy điện thoại reo.
Đâu dây bên kia:
" Anh song việc chưa, em nhờ tý "
Pv: Vợ anh gọi à, Em không phiền nữa, anh mang Chuối và Na cho chị nhà đi ạ
Chuyên gia: Hừm ! Cô này cũng thông minh đấy nhỉ.
Chả mang về thì sao, vì cô đâu có cần đến nó.
Yếu tố cuối cùng: Hãy chuyển sản phẩm của mình đến nơi nào đang cần nó nhất.
Khi mọi người hiểu và làm rõ 4 vấn đề trên một cách đơn giản thế này thì trồng cây gì cũng được.
Chào cô!
Ps: Cuộc phóng vấn không được phát sóng Vì nhà đài cho rằng nó khác với những gì các giáo sư vẫn thường truyền đạt
(bài viết nguyên văn của facebook Trần nhữ Giáp)

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Tầm quan trọng của việc phòng và trị bệnh giun đủa ở gà

Bệnh giun đũa ở gà do Ascaridia galli (Schrank, 1788) thuộc lớp giun tròn gây ra. Giun đũa gà là bệnh phổ biến xảy ra ở tất cả các lứa tuổi và khắp nơi trên thế giới.

Phòng và trị bệnh giun đũa cho đàn gà con là điều cần thiết
 
Theo khảo sát của Bộ môn Ký sinh trùng, Trung tâm Nghiên cứu thú y, Công ty Navetco cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở gà từ 18-37%
Giun có màu vàng, giun đực dài từ 3-10 cm, giun cái dài từ 7-12 cm; trứng có vỏ dầy, dạng hình bầu dục kích thước 70×90 micrometter; trứng có sức đề kháng tốt và tồn tại lâu trong môi trường. Giun ký sinh trong ruột non của gà, đôi khi ký sinh ở ống dẫn mật.
Chu trình phát triển của giun đũa ở gà: Giun đũa ở gà có chu trình phát triển trực tiếp, giun cái trưởng thành đẻ trứng theo phân thải ra môi trường găp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp trứng sẽ phát triển thành trứng gây nhiễm; thời gian này mất khoảng 5-25 ngày. Gà ăn phải trứng này qua thức ăn, nước uống vào dạ dầy sẽ nở ra ấu trùng và đi xuống ruột non. Từ 1-2 giờ sau khi ăn phải trứng, ấu trùng sẽ xâm nhập tuyến ruột và phát triển ở đó trong 19 ngày; sau đó ấu trùng trở lại lòng ruột sống và phát triển đến giai đoạn trưởng thành.
Thời gian từ lúc gà ăn phải trứng gây nhiễm đến khi giun trưởng thành ký sinh ở ruột non khoảng 35-58 ngày.
hinh-anh-dan-ga-chan-nuoi (21)
Đàn gà khoẻ mạnh khi không bị bệnh giun đũa
Bệnh lý:
Gà bị ảnh hưởng trong giai đoạn ấu trùng gây xuất huyết niêm mạc ruột, nơi ký sinh của ấu trùng ruột bị giãn, sưng và dầy lên, thành ruột bị phù tổn thương tạo điều kiện cho vi trùng đường ruột nhất là E.coli phát triển làm cho gà bệnh nặng hơn.
Giun đũa gây bệnh nặng ở gà con hơn ở gà lớn; thời gian phát triển của giun đũa ở gà con thường từ 30-35 ngày, trong khi ở gà lớn là 50 ngày.
Gà trên 3 tháng tuổi có sức đề kháng tốt với khả năng nhiễm giun đũa ít hơn so với gà dưới 3 tháng tuổi. Gà nuôi chăn thả như gà thả vườn hay nuôi trên nền trấu như cách chăn nuôi của người dân ở nước ta rất dễ bị nhiễm giun đũa gà.
Tác hại của bệnh: Gà bị nhiễm nặng gây mất máu, niêm mạc, mồng nhợt nhạt, chân khô, ăn giảm, tiêu chảy, còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn nhiều thức ăn cho 1kg tăng trọng. Khi bị nhiễm nặng gà thường chết do tắc ruột hay tắc ống dẫn mật và có thể giảm tăng trọng đến 30%.
Chẩn đoán:
– Trên gà sống: Thường là xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa.
– Mổ khám: Ở ruột non tìm giun đũa là phương pháp cho kết quả chính xác nhất.
Nguồn truyền lây: Gà lớn bị nhiễm giun đũa thải trứng ra ngoài môi trường là nguồn truyền lây cho gà con qua qua thức ăn, nước uống; Châu chấu và giun đất có thể mang trứng giun đũa để lây nhiễm cho gà.
Phòng bệnh:
– Nên nuôi gà trên sàn.
– Gà nuôi trên nền nên thường xuyên thay chất độn chuồng.
– Thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống.
– Nuôi cách ly gà con với gà lớn.
– Để giảm ô nhiễm trứng giun trong môi trường cần định kỳ tẩy giun cho gà.
– Gà con bắt đầu tẩy giun đũa ở 4-6 tuần tuổi, sau đó mỗi tháng tẩy 1 lần.
– Gà lớn trên 3 tháng tuổi 3 tháng tẩy 1 lần.
Điều trị:
– Piperazine: Cho uống hoặc trộn vào thức ăn, liều 50-100 mg/kg trọng gà.
– Tetramisol: Cho uống hay trộn thức ăn, liều 40 mg/kg trọng lượng gà. Thuốc có hiệu quả tẩy giun từ 89% – 100%.
– Levamisol: Cho uống liều 30-60ppm.
– Albendazole, Mebendazole có hiệu quả tốt đối với giun đũa gà.
– Fenbendazole: Cho uống, hiệu quả tẩy giun rất cao từ 99,2-100%
– Lvermectine: Tiêm dưới da, liều 0,3 mg/kg thể trọng, hiệu quả tẩy giun từ 90,2 %-95%, thuốc có ưu điểm tẩy được giun non.
(tổng hợp:sinhhocvietnam. Vn)

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

Kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây nhiều loại quả trong chậu

Số lượng quả nhiều, chủng loại quả lại đa dạng. Vì vậy mà cây 9 loại quả cần có chế độ chăm sóc khác với những loại cây thông thường. Đặc biệt là khi cây không trồng trên đất mà đã được đánh vào chậu. Vậy, chăm sóc như thế nào là đúng và phù hợp nhất? Ngay sau đây, ông Lê Đức Giáp ở xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Nội sẽ chia sẻ với cô bác và bà con kinh nghiệm chăm sóc cây 9 loại quả trong chậu.
 
Ảnh minh họa.
          Số lượng quả trên mỗi cây 9 loại quả nhiều gấp 2-3 lần so với những cây bình thường. Như vậy, gốc sẽ phải cung cấp lượng chất dinh dưỡng nhiều hơn bình thường để nuôi quả tiếp tục phát triển cho đến hết chu kỳ sinh trưởng, tới khi quả chín và rụng xuống. Thông thường thời điểm này sẽ dài tới sau tết 1 tháng. Trong môi trường trồng chậu, lượng dinh dưỡng từ đất rất nghèo. Vì vậy,  cứ mỗi tháng một lần, ông Lê Đức Giáp, cần bón bổ sung phân hỗn hợp NPK. Theo kinh nghiệm của ông Giáp, bà con nên chọn những loại phân tan nhanh như phân Việt Nhật, Đầu Trâu hay Bình Điền để cây hấp thụ dễ hơn. Ông Lê Đức Giáp cho biết:  
“Cứ mỗi tháng một lần, bón cho mỗi gốc độ 1 lạng phân, và tưới nước cho phân tan ngay, không để vón cục trên mặt bầu như thế thì cây mới có đủ chất để nuôi quả.”
          Sau khi bón phân, bà con cần tưới nước. Tưới nước lúc này ngoài tác dụng cung cấp độ ẩm cho cây, thì còn giúp hòa tan phân, tránh tình trạng phân bón bị vón lại. Khi đó, không những cây không hấp thu được mà ngược lại, còn gây hại cho rễ. Bà con tưới nước cho cây như những lần tưới ngày thường.
 “Nếu để phân vón cục thì sẽ làm cháy rễ, thối rễ, cây sẽ bị hư vì vậy, sau khi bón là phải tưới nước ngay cho phân nó tan ra.”-Ông Lê Đức Giáp nói.
          Độ ẩm cần thiết cho mỗi chậu cây 9 loại quả là từ 60-65%. Vào mùa mưa thì 3 ngày, bà con cần tưới bổ sung nước một lần. Còn khi trời hanh khô như hiện nay, bà con cần duy trì tưới nước hàng ngày. Có một cách quan sát khá đơn giản để nhận biết chậu cây có đủ ẩm hay không.
Ông Lê Đức Giáp cho biết:
“ Cây ở trên chậu nếu thấy mặt đất trên bầu chậu này màu trắng thì là cây thiếu nước. Còn đất nâu thâm thì là cây đủ nước. Vào tháng 6,7 mùa mưa thì 3 ngày tưới một lần. Còn đến tháng 10, hanh khô thì 1-2 ngày tưới một lần”
          Cây 9 loại quả trồng trong chậu chủ yếu hay bị rệp, sâu vẽ bùa tấn công. Nếu không có cách phòng trừ thì bộ lá của cây sẽ bị hại, không đạt độ thẩm mỹ cho cây cảnh. Tuy nhiên, bà con cần chú ý chọn loại thuốc để phun cho phù hợp.
Ông Lê Đức Giáp cho biết: “Cây trên chậu thì bộ lá của nó không thể như cây dưới đất được nên tôi dùng thuốc sinh học. Chủ yếu là dầu khoáng 99 EC, hoặc phun thêm nước rửa bát hòa với tỉ lệ 200 cc/ 15 lít nước, nó có thể chống được cả rệp và vẽ bùa, mình chủ yếu dùng các loại thuốc nhẹ. Nếu dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật nặng có thể sẽ sinh ra cháy lá và rụng lá”
          Trong vườn cây 9 loại quả trồng trong chậu, bà con cần làm hệ thống lưới đen để che nắng. Nhất là trong thời gian 2 tháng đầu, khi cây mới được chuyển vào chậu. Vì lúc này, bộ rễ còn yếu, chưa thích ứng và cung cấp dinh dưỡng cho cây như bình thường, nếu bị nắng gắt chiếu vào lá sẽ bị héo và rụng mất. Khi rễ cây đã phát triển ổn định trong chậu, bà con có thể bỏ lưới che, để lá tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tăng khả năng quang hợp. 
(Tổng hợp)

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Trung Quốc:Nông dân đổ thanh long xuống ao vì ế



Hằng ngày, nông dân một nông trại trồng thanh long ở Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung Quốc phải đổ đi hàng loạt thanh long thối xuống ao cá. (Nguồn: chinanews.com)

Năm nay thanh long ở đây được mùa nhưng sức tiêu thụ yếu, cộng thêm nhiệt độ cao nên không bảo quản được lâu. (Nguồn: chinanews.com)



Nông dân đổ thanh long xuống ao cá. (Nguồn: chinanews.com)

Phân loại thanh long. (Nguồn: chinanews.com)

Nông dân đổ thanh long xuống ao cá. (Nguồn: chinanews.com)
(tổng hợp)

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Quy trình kỹ thuật cơ bản trong chăn nuôi lợn nái đạt năng suất cao

kỹ thuật chăn nuôi lợn nái

1. Chuồng heo

 – Hướng chuồng: Đông – Tây, Đông Bắc – Tây Nam, Đông Nam – Tây Bắc để hứng được nắng sáng trước chuồng.
– Cao ráo, thoáng mát, tránh mưa tạt, gió lùa.
– Chắn chắn, đảm bảo vệ sinh, tiện chăm sóc,…
– Có máng ăn, máng uống, ổ úm heo con.
– Ít tốn kém.
– Diện tích tối thiểu: heo nái và bầy heo con: 8 m2, heo nái khô: 1,5m2
– Xa khu nhà ở, dân cư đông đúc, nguồn nước.
– Nền chuồng không quá trơn trợt hay quá nhám và có độ dốc 2-5%.
– Nhiệt độ thích hợp 22-250C, độ ẩm 75%.
Ngoài ra nên xây dựng thêm rãnh thoát nước, chất thải, hố ủ phân hoặc ao cá hay túi ủ biogas,.

2. Đặc điểm các giống heo nội (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu)

– Heo có tầm vóc trung bình, ngăn đòn, lưng thẳng hay võng, bụng to vừa, mông đùi to vừa, chân nhỏ, đi bàn, móng hở.
– Heo nuôi 6 tháng tuổi đạt 45-50 kg. Tỷ lệ nạc thấp 35-38%, độ dày mỡ lưng 3,5-4,5 cm.

3. Đặc điểm các giống heo ngoại (Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain)

– Heo có tầm vóc to lớn, dài đòn, lưng thẳng hay cong, bụng gọn, mông đùi to, chân to, khỏe, thẳng, đi móng, móng khít.
– Heo nuôi mau lớn, 6 tháng tuổi đạt 100 kg. Tỷ lệ nạc cao 50 – 60%, độ dày mỡ lưng thấp 2-3 cm.

4. Chọn giống heo: Dựa vào 4 yếu tố chính như chuồng trại, thức ăn, thú y và môi trường.

Nếu cả 4 yếu tố đều tốt thì nên nuôi heo giống ngoại hoặc heo lai để đạt hiệu quả kinh tế cao vì heo mau lớn và tốn ít thức ăn.
 Chỉ cần một yếu tố chưa tốt như chuồng trại không vệ sinh hay thức ăn không đủ dưỡng chất hoặc không tiêm phòng, nước bị phèn, mặn,…thì nên nuôi heo giống nội hoặc heo lai vì dễ nuôi, ít bệnh nhưng chậm lớn.

5. Chọn heo để nái.

            Chọn những heo cái trội trong bầy, có trọng lượng trên 15 kg lúc 60 ngày tuổi và từ lứa đẻ thứ 2 trở đi của heo nái tốt.
            Heo có lông, da bóng mướt, dài đòn, lưng thẳng hoặc cong, bụng gọn, mông đùi to, bốn chân thẳng khỏe, đi móng, móng khít. Có từ 12 vú trở lên, khoảng cách đều, có núm vú rõ, bộ phận sinh dục (âm hộ) nở to. Không khuyết tật hay mắc bệnh truyền nhiễm. Nếu là heo nái phải đẻ sai (trên 10 con/ổ, tốt sữa, nuôi con giỏi), tính tình hiền, dễ nuôi.

6. Nuôi dưỡng và chăm sóc heo cái hậu bị

– Giai đoạn cai sữa – 60 kg: cho ăn tự do để heo mau lớn, phát triển đầy đủ các cơ quan.
– Giai đoạn 60 kg đến lên giống lần đầu: cho ăn hạn chế 2 – 2,5 kg/con/ngày để tránh heo cái bị mập sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này.
– Cho ăn 2 lần/ngày, nước uống sạch, đầy đủ.
– Mỗi ngày làm vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và tắm chải heo ít nhất một lần.
– Trường hợp heo chậm lớn: bổ sung thêm các loại vitamin ADE, B complex, premix khoáng, vitamin…bằng cách tiêm hay trộn vào thức ăn.
« Dấu hiệu heo lên giống:
Đối với heo nội thường lên giống 4 – 5 tháng tuổi, heo ngoại khoảng 6- 7 tháng tuổi. Khi lên giống biểu hiện: ăn ít, quậy phá, chồm lên con khác hay thành chuồng. Lúc đầu âm hộ sưng to và chảy nước nhờn, vú hơi sưng và hồng hơn. Sau vài ngày âm hộ bớt sưng, teo lại, màu trở nên sậm hơn, nước nhờn ít và keo đặc. Thời gian lên giống kéo dài từ 3 – 5 ngày, sau đó heo trở lại bình thường.
« Chu kỳ lên giống: 21 ngày.
« Phối giống:
            Chỉ nên phối giống vào lần lên giống thứ 2 trở đi. Khi đó lượng tối thiểu là 60 – 70 kg đối với heo nội và 100 kg đối với heo ngoại.
            Thời điểm phối giống tốt nhất là ngày thứ 3 – 4 sau khi heo lên giống. Lúc đó heo có biểu hiện: âm hộ bớt sưng, nhăn lại, màu sậm và chất nhờn ít đi, keo đặc lại. Nếu ấn 2 tay lên mông heo sẽ đứng yên.
            Để đậu thai cao, nên phối kép (phối 2 lần cách nhau 12 giờ vào lúc sáng sớm hay chiều mát).
             Sau khi phối giống nên nhốt heo riêng, tránh ồn, cho ăn hạn chế khoảng 1,8 – 2 kg/con/ngày.
« Kiểm tra đậu thai: Sau 21 ngày nếu heo không lên giống mà ngủ nhiều thì hy vọng heo đậu thai.

7. Nuôi dưỡng và chăm sóc heo nái sinh sản

Thời gian mang thai là 114 – 115 ngày (3 tháng, 3 tuần, 3 ngày). Thức ăn của heo nái trong giai đoạn mang thai là 14% đạm và năng lượng 2.800 Kcal/kg thức ăn. Thời gian mang thai chia làm 2 giai đoạn:
*Giai đoạn chữa kỳ 1: (3 tháng đầu).
– Sau khi phối giống nên nhốt riêng, chuồng cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ và yên tĩnh.
– Mức ăn: từ 2 – 2,5 kg/con/ngày, cho ăn nhiều rau xanh để tránh mập. Cho nước uống sạch đầy đủ.
  *Giai đoạn chửa kỳ 2: (3 tuần, 3 ngày cuối).
Giai đoạn này thai phát triển rất nhanh, nên tăng lượng thức ăn lên 2,5 – 3 kg/con/ngày.
– 7 ngày trước đẻ chuẩn bị ổ úm heo con. Tắm chải heo nái mỗi ngày, vệ sinh và sát trùng chuồng trại.
– 3 ngày trước khi đẻ cho ăn hạn chế còn 1,8 – 2,2 kg/con/ngày, nhiều rau xanh để tránh heo nái bị bón. Cung cấp nước uống sạch đầy đủ.
– Nên chích thêm vitamin ADE.
– Chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ: kềm cắt răng, chỉ cột rốn ngâm vào cồn iod, lưỡi lam hoặc kéo cắt rốn, thuốc đỏ, giẻ sạch, thuốc sát trùng (cồn iod hay thuốc đỏ hoặc xanh methylen), thuốc trợ sức (vitamin C, Camphona,…), thuốc kháng sinh (Penicilin, Streptomycin, Oxytetracylin, Chlortetrasol), Oxytocin,…ống chích, kim tiêm,…
+ Giai đoạn heo nái đẻ:
Heo có thể đẻ sớm hay trễ hơn 1 – 5 ngày.
– Khi nái có hiện tượng: ăn ít, cắn ổ, đi đứng nặng nề (bụng to, vú căng…), hay đi lại, tiêu từng lọn nhỏ, tiểu nhiều lần là gần đến ngày đẻ. Nặn vú thấy sữa đục bắn ra thành tia là heo sẽ đẻ vài giờ sau. Nếu thấy nước ối chảy ra (nước nhờn nhiều và có lẫn hạt đen nhỏ (cứt xu) là heo sẽ đẻ sau đó vài phút.
– Kiểm tra lại dụng cụ đỡ đẻ, ổ úm heo con (lót rơm hoặc bao bố, đèn 100W hoặc lò than sưởi).
         * Khi nái đẻ:
– Cần giữ yên tĩnh, chuồng khô sạch.
– Heo con đẻ ra cần được lau sạch nhớt miệng, mũi, chung quanh mình, cột cuống rún cách thành bụng 1,5 – 2 cm bằng chỉ sạch và cắt cách chỗ cột khoảng 1 cm về phía ngoài, sau đó sát trùng cuống rún và chỉ cột bằng thuốc sát trùng. Cắt 8 cái răng sát nướu. Xong cho vào lồng úm có nhiệt độ 30 – 32oC.
– Nên tranh thủ cho các heo con bú sữa đầu lúc heo ngưng đẻ.
– Trong khi đẻ hay sau khi đẻ nếu thấy heo nái mệt, yếu sức có thể tiêm thêm các loại thuốc trợ sức như: vitamin C, Camphona,…
– Bình thường heo đẻ khoảng 1-2 giờ là xong, sau đó nhau sẽ tự ra, kéo dài khoảng 1-2 giờ (chú ý để nhau ra tự nhiên không nên can thiệp nắm kéo sẽ bị đứt gây sót nhau).
– Sau khi đẻ nên làm vệ sinh heo mẹ bằng nước ấm và rửa bên ngoài bộ phận sinh dục bằng thuốc sát trùng hay nước muối.
*Kiểm tra sót nhau:
– Kiểm tra cuống nhau phải bằng với số con sinh ra,  nếu thiếu là bị sót nhau.
– Sau khi đẻ 1-2 ngày mà heo nái vẫn còn biểu hiện rặn, sốt là còn sót con hoặc sót nhau, hay bị chảy mũ ở bộ phận sinh dục, cần can thiệp kịp thời (nếu không sẽ đưa đến tình trạng mất sữa).
             * Nuôi dưỡng heo nái giai đoạn nuôi con:
– Diện tích chuồng: 8 m2/heo nái và bầy heo con.
– 1-2 ngày sau khi đẻ cho heo nái ăn thức ăn dễ tiêu như nấu cháo đậu xanh hay cháo cá,…Sau đó cho nái ăn thức ăn chứa 16% đạm và năng lượng 3.000 Kcal/kg thức ăn với mức ăn như sau:
             Ngày đẻ không cho heo nái ăn, cho heo uống nước tự do.
Ngày1234567
Mức ăn (kg)12345Tự do
– Cho heo nái ăn nhiều rau xanh để tránh bị táo bón.
– Cho ăn nhiều lần và cung cấp đủ nước sạch.
– 1-2 ngày trước khi cai sữa nên giảm thức ăn heo nái cho vú bớt căng sữa để tránh bị viêm vú heo mẹ.
– Ngày cai sữa không cho ăn, sau đó cho ăn lại từ từ.
         *Nuôi dưỡng và chăm sóc heo con:
– Cho tất cả heo con bú sữa đầu (1-2 ngày đầu) càng sớm càng tốt (có thể đang lúc heo đẻ) vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể nên giúp heo con khỏe mạnh, chống lại với bệnh dịch sau này. Sau đó cứ 1-2 giờ cho bú một lần. Cho heo đẹt bú các vú vùng ngực có nhiều sữa hơn để sau này bầy heo được đồng đều.
– Nên úm heo con ít nhất là 1-2 tuần đầu, nhiệt độ giảm dần từ 32-28oC.
– 1-3 ngày tuổi: chích chất sắt lần 1 cho heo con: 1cc/con. Lần 2: lúc 10 ngày tuổi: 1 cc/con. Chích vào cơ vùng cổ hoặc sau đùi.
– Tập ăn sớm cho heo con từ ngày thứ 7, dùng chuối xiêm chín bóp nhuyễn trộn với cháo nhừ tập cho heo ăn. Sau đó cho ăn thức ăn hỗn hợp chứa 20 – 22% đạm, số lượng ăn mỗi lần ít nhưng ăn nhiều lần.
– Thiến heo đực: lúc 2 tuần. Heo cái không cần thiến.
– Trường hợp heo con chậm lớn, xù long,… nên chích bồi dưỡng các loại thuốc bổ như: vitamin ADE, B-complex, vitamin C, B1, B6, B12,…khoảng 2 tuần/lần. Mỗi lần 0,5-1 cc/con.
– Cai sữa sớm: lúc 28 – 30 ngày tuổi. Sau đó nuôi tiếp heo con 1 tháng bằng chuồng lồng hoặc cai sữa lúc 45 hay 60 ngày tuổi.
– Khi cai sữa nên chuyển heo mẹ đi nơi khác, heo con giữ lại tại chỗ ít nhất 7 ngày. Cho ăn thức ăn chứa 18% đạm, ngon, dễ tiêu, chuồng sạch sẽ, ấm áp.
         *Kiểm tra nái lên giống lại:
Sau khi cai sữa heo con từ 3 – 7 ngày heo nái sẽ lên giống lại, có thể cho phối giống. Tùy theo tình trạng sức khỏe của heo mà có chế độ ăn uống thích hợp.

8. Phòng bệnh và xổ lãi:

– Thời điểm: + Sau khi mua heo về được 2 tuần.
                     + Lúc heo được 6 tháng tuổi.
                     + Heo nái 6 tháng tiêm lại.
– Xổ lãi trước một tuần sau đó tiêm phòng các bệnh: dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng và lở mồm long móng. Tiêm lần lượt các loại thuốc thừa trên cách 3-7 ngày.
– Có điều kiện nên kiểm tra mầm bệnh Leptospiosis, Brucellosis,…
(nguồn:hội nông dân cần thơ)