Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Nấm Linh Chi:Những công dụng thần kỳ và mối liên quan ít ai biết.

Đối với nấm linh chi thì có nhiều tác dụng khác nhau, tuy nhiên có những đồn thổi làm nhiều người chưa hiểu đích xác về loại nấm này, hôm nay chúng tôi sẽ tổng hợp một bài viết về công dụng của nấm linh chi, hy vọng nó sẽ hữu ích với tất cả những ai đang muốn tìm hiểu về loại nấm này.

Có mấy loại nấm linh chi ?

Nấm Linh Chi có nhiều hình dạng khác biệt, có cái hình nấm nhưng mũ nấm không tròn mà nhăn nheo, có thứ giống như trái thận, có thứ lại hình giống như sừng hươu. Theo Thần Nông Bản Thảo có 6 loại Linh Chi, mỗi loại có một công năng đặc biệt.
1. Linh chi xanh: Còn gọi là Thanh chi hay Long chi có màu xanh, vị chua, tính bình, không độc và có tác dụng trị sáng mắt, bổ gan khí, an thần, tăng trí nhớ.
2. Linh chi đỏ: Còn được gọi là Hồng chi, Xích chi hay Đơn chi có màu đỏ vị đắng, tính bình, không độc giúp tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ trung, chữa trị tức ngực.
3. Linh chi vàng: Còn được gọi là Hoàng chi hay Kim chi, màu vàng vị ngọt, tính bình, không độc, chuyên trị an thần, ích tì khí.
4. Linh chi trắng: Còn gọi là Bạch chi hay Ngọc chi, màu trắng vị cay, tính bình, không độc, ích phổi, thông mũi, cường ý chí, an thần, chữa ho nghịch hơi.
5. Linh chi đen: Linh chi đen còn được gọi là Hắc chi hay Huyền chi, màu đen vị mặn, tính bình, không độc trị chứng bí tiểu, ích thận khí.
6. Linh chi tím: Còn được gọi với tên Tử chi hay Mộc chi, màu tím vị ngọt, tính ôn, không độc, đặc trị đau nhức khớp xương, gân cốt.
Trong 6 loại kể trên thì nấm linh chi đen và đỏ được coi là có tác dụng trị liệu tốt nhất, và được dùng nhiều nhất trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, linh chi đỏ được chứng minh là tốt cho sức khỏe hơn cả vì nó thúc đẩy sự làm việc của hệ thống miễn dịch, làm tăng sự hoạt động của cơ thể và chống lão hóa và linh chi đỏ được gọi là linh chi chuẩn để phân biệt nấm linh chi với những loài khác.

Tác dụng của nấm linh chi

1. Tác dụng của nấm linh chi chống khối u: Nấm linh chi có chứa các hoạt chất kháng khối u như triterpenes, một chất ngăn ngừa sự lan rộng của các khối u ác tính. Hợp chất đường đa phân tử polysaccharides giúp tăng cường chức năng miễn dịch và cũng là những chiến binh tiêu diệt khối u.Trong một số nghiên cứu gần đây, linh chi được chứng minh là giúp “đánh bật” khối u theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như thử nghiệm trên động vật, kết quả cho thấy linh chi có thể ngăn ngừa di căn.
2. Tăng testosterone: Linh chi giúp cơ thể sản sinh ra hợp chất hữu cơ thành steroid. Điều này có nghĩa nó có thể giúp đẩy nhanh trạng thái đồng hóa, giúp cơ thể tái cơ cấu và củng cố, phát triển các cơ bắp. Đồng thời, loại nấm này cũng giúp ngăn chặn một loại enzyme chuyển đổi hoóc-môn testosterone thành dihydrotestosterone, lưu lại nhiều testosterone hơn trong cơ thể, qua đó tăng chức năng sinh dục.
3. Làm loãng máu: Ganoderma trong linh chi có tác dụng làm loãng máu, bởi vậy loại nấm này có thể được sử dụng để trị huyết áp cao và chứng kích động.
4. Tốt cho gan: Axit ganoderic trong nấm linh chi giúp trị các chứng bệnh liên quan đến gan ở người.
5. Kháng khuẩn: Ngoài việc tăng cường chức năng miễn dịch, ganoderma còn có tác dụng kháng khuẩn, giúp chống lại các loại vi khuẩn và virut thường gặp như HSV-1, HSV-2, vi rút cúm, viêm miệng…
6. Giãn mạch máu: Vì có chứa alkaloid(có chứa nito) và adenosine nên linh chi rất hữu dụng trong việc làm giãn mạch máu. Điều này đồng nghĩa với linh chi giúp mạch máu giãn nở, cho phép nhiều máu, oxi và chất dinh dưỡng đến khắp nơi trong cơ thể, thông qua đó giúp tăng năng lượng và giúp đẩy nhanh quá trình hàn gắn vết thương. Ngoài ra, linh chi cũng giúp giảm huyết áp.
* Ngoài ra Nấm linh chi còn có tác dụng để chữa bệnh mất ngủ, lở dạ dày, tê thấp, suyễn, sưng cổ họng. Người Trung Hoa hiện nay còn dùng Linh Chi để cho da mặt thêm mịn, có lẽ là do các chất hormone trong loại nấm này. Nhiều y gia Nhật Bản lại dùng Linh Chi trong các loại thuốc trị rụng tóc…

Cách sử dụng nấm linh chi tốt nhất

Cách 1: Thái lát: Cách này phổ biến nhất: mua dưới dạng thái lát để dùng
1. 50g Linh chi dùng được cho 10 người. Cho 50g Linh chi vào ấm đun cùng với 1.000cc nước, đun khoảng 2~3 phút rồi tắt lửa. Để ngâm như vậy trong vòng 5 phút rồi đun tiếp khoảng 30 phút bằng lửa nhỏ. Đun đến khi nước cạn còn khoảng 800cc thì ta được nước đầu tiên
2. Đun nước 2 và nước 3: Sau khi được nước đầu lấy lát Linh chi ra dùng kéo cắt nhỏ (khoảng 1cm) rồi đổ nước vào đun như khi lấy nước đầu. Đổ lẫn nước đầu nước 2 và nước 3 để được 2.400cc nước linh chi rồi cho vào bình và bảo quản trong tủ lạnh
3. Cách dùng: Một ngày 240cc chia thành 80~120cc dùng làm 2~3 lần
4. Sau khi được nước 3 lấy bã Linh chi phơi khô đun lấy nước 4 hoặc dùng để tắm, rất tốt cho da và tóc
Cách 2: Nghiền thành bột: (Linh chi rất khó nghiền vì sẽ bông lên)
Cho vào tách hãm bằng nước thật sôi trong 5 phút sau đó uống hết cả bã
Có thể làm người dùng hơi khó chịu vì sự không tan của nó, nhưng đây là cách dùng tốt nhất theo khuyến cáo của các nhà khoa học
Cách 3: Uống dạng Trà: Nghiền Nấm Linh Chi thành bột, bọc túi vải cho vào ấm hãm uống như uống trà hoặc cho vào tách hãm bằng nước thật sôi trong 5 phút sau đó uống hết cả bã
Cách 4: Ngâm rượu: Nấm Linh Chi khô để nguyên chiếc hoặc thái lát, ngâm với rượu mạnh khoảng 20 ngày. Nên uống rượu ngâm Linh Chi vào buổi tối, mỗi ngày 1 đến 2 chén
Cách 5: Uống thay thế nước: Cho Linh Chi thái lát mỏng vào phích nước nóng và để một giờ, sau đó uống dần trong ngày
Cách 6: Nấu canh súp: Nấm Linh Chi lấy nước nấu các loại canh thịt hoặc súp dùng làm thức ăn bồi bổ cho người mới ốm dậy và người già yếu.

Cách phân biệt nấm linh chi thật và giả

Thật khó phân biệt linh chi thật giả bởi lẽ không hiếm trường hợp “thật mà lại là giả” vì hoạt chất trong dược liệu đã bị chiết xuất cạn kiệt trước khi đem bán, cái nấm khi đó chỉ còn là “rác” mà thôi ! Vậy nên, tiêu chuẩn vàng để phân biệt linh chi thật và linh chi giả là việc định tính và định lượng các hoạt chất đặc trưng trong thành phần của nấm và hơn nữa cũng phải có những tiêu chuẩn riêng cho từng loài nấm linh chi khác nhau.
1. Chỉ nên mua nấm linh chi có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng ở tại các cơ sở đông dược có đủ tư cách pháp nhân (kể cả trong nước và ngoài nước), hết sức tránh mua sản phẩm trôi nổi trên thị trường, đặc biệt là những Linh Chi đóng bao bì ngoại Quốc rất dễ làm giả. Nấm Linh Chi Nhật Bản và Trung Quốc rất cứng không thể bẻ cong, nấm linh chi trồng ở Việt Nam mềm hơn và có thể uốn cong là lưu ý để người tiêu dùng biết để chọn lựa nấm Linh Chi Việt Nam.
2. Nên dùng nấm linh chi được gieo trồng chuyên nghiệp vì chất lượng ổn định, đảm bảo hiệu quả và không có các phản ứng bất lợi. Đừng dễ dàng “mở hầu bao” để mua thứ linh chi được quảng cáo đường mật là được thu hái tự nhiên ở trên rừng, trên núi.
3. Khi mua, nên chọn loại nấm có kích thước vừa phải, lành lặn, dày dặn, không bị mối mọt và còn nguyên tán, khi sắc hoặc hãm uống thử phải có được thứ dịch màu hổ phách, mùi nồng nồng và vị đắng đặc trưng.

Giá cả của nấm linh chi là bao nhiêu?

Hiện nay Việt Nam có rât nhiều công ty cửa hàng có bán nấm linh chi với giá cả mỗi nơi mỗi khác, giá nấm linh chi Việt Nam dao động từ 740.000 đến 850.000, giá nấm linh chi Nhật Bản từ 1.200.000 đến 1.500.000 VND. Giá nấm linh chi Hàn Quốc từ 1,5 triệu trở lên.
(Tổng hợp)

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Tìm hiểu bệnh dịch tả lợn.

 Phó GS-TS Lê Văn Năm 

1.
Giới thiệu bệnh:
Dịch tả lợn là một trong  4 bệnh đỏ truyền nhiễm nguy hiểm nhất ở lợn nuôi mà tổ chức dịch tế thế giới- OIE buộc tất cả các nước phải đặc biệt quan tâm và công bố dịch nếu bệnh nổ ra. Bệnh có 5 thể biểu hiện:
- Thể quá cấp tính đặc trưng với các biểu hiện của nhiễm trùng huyết toàn thân kèm theo xuất huyết.
- Thế cấp tính và dưới cấp tính có các biểu hiện đặc thù viêm phổi và viêm hoại tử ruột, kèm theo táo bón.
- Ngoài ra dịch tả lợn cũng có 2 biểu hiện nữa là mãn tính và không điển hình.
2.Lịch sử bệnh:
Bệnh dịch tả lợn được phát hiện đầu tiên ở bang Ohio - Mỹ vào năm 1983. Nhưng đến năm 1905 Dorset, Bolton và Bryde mới xác định được căn nguyên gây bệnh là do virus. Từ đó đến nay, dịch tả lợn lan tràn khắp năm châu lục và gây nhiều thiệt hại và kinh tế.

3. Nguyên nhân gây bệnh:
Dịch tả lợn do một loại virus chứa ADN thuộc Rotavirus (Togaviridae) họ Flaviridae, nhóm Pestisvirrus, có màng lipit bọc, đường kính đến 50nm.
Virus dịch tả lợn rất nhạy cảm với Ete, Chloroform, nhưng khá bền vững với Trypsin.
Virus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao trên 75 độ C, PVP iodine, Benzalkonium, Dezoxicholat Natri, nước vôi 10%, Formol 1-2% Phencol, Hyzol.
Khi vào cơ thể lợn, virus di hành đến khắp nơi, có thể tồn tại và phát triển ở mọi cơ quan, mô tổ chức của cơ thể.
Virus được đào thải ra môi trường bên ngoài qua các dịch bài tiết như nước tiểu, sữa, nước nhầy, nước mắt, nước bọt và phân.
Trong môi trường thiên nhiên, ở nhiệt độ thấp dưới 10 độ C virus sống và giữ nguyên độc lực gây bệnh hàng tháng. Ở nhiệt độ bình thường 18-30 độ C, chúng có thể sống nhiều tuần, nhưng dưới ánh sáng trực tiếp của mặt trời thì chúng không tồn tại lâu hơn 10 giờ. Thuốc sát khuẩn hữu hiệu thường dùng hiện nay là PVP.iodine 10%, B.K.Vet, Formol 1,5-2%, Virkon.S….

4. Động vật thụ cảm:
Virus dịch tả lợn chỉ có một chủng huyết thanh (1 serotyp) và chỉ gây bệnh cho lợn nhà và lợn rừng (hoang dã).
Lợn thả rông, lợn rừng có sức kháng bệnh cao gấp hàng trăm lần so với các giống lợn năng suất cao nuôi theo hình thức tập trung công nghiệp.

5.Đặc điểm dịch tễ:
Lợn ở mọi lứa tuổi đều dễ bị nhiễm virus, đặc biệt là lợn con sơ sinh không có kháng thể thụ động từ sữa mẹ rất dễ bị bệnh và chết. Lợn mẹ được tiêm phòng 15- 30 ngày trước khi đẻ sẽ cho sữa đầu với hàm lượng kháng thể đặc hiệu cao có thể bảo hộ cho lợn con đến khi một hoặc hơn một tháng tuổi.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng ở Việt Nam bệnh thường thấy nhiều hơn vào vụ rét, mưa phùn gió bấc.
Nguồn bệnh nguy hiểm nhất là lợn ốm và lợn chết do dịch tả lợn. Lợn khỏi bệnh dịch tả vẫn có thể đào thải virus cường độc một thời gian dài, tới 3 tháng.
Mầm bệnh có thể truyền từ lợn nái mang trùng sang bào thai và từ những lợn con sinh ra sẽ lây sang các ổ lợn con khác, rồi lan ra cả một trại lợn một cách bí ẩn. Đây cũng là nguyên nhân khó lý giải đối với các cán bộ chuyên môn khi bản thân họ đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu, các giải pháp kỹ thuật phòng bệnh. Vì thế, họ sẽ không hiểu được tại sao dịch tả lợn lại có thể bùng nổ ở các trại, các cơ sở chăn nuôi công nghiệp đã rất nghiêm ngặt chấp hành các quy định và quy trình phòng bệnh bằng vắc xin.
Nguồn bệnh nguy hiểm thứ hai là thịt và các chất thải, các sản phẩm chế biến từ lợn bệnh, các dụng cụ thiết bị, thức ăn, nước uống, môi trường bị nhiễm mầm bệnh.
Phương thức lây truyền: Bệnh có thể lây lan bằng rất nhiều con đường như: hô hấp, ăn, uống, phối tinh, nhiễm qua da bị nứt nẻ, qua tiếp xúc trực tiếp lợn với lợn,hoạc gián tiếp qua dụng cụ thức ăn, hoặc do chó, mèo tha xương thịt từ các lợn bị chết do dịch tả ở nơi khác về...
Bệnh có tính dịch cao, lây lan nhanh và có nhiều hình thức biểu hiện hoặc không biểu hiện.

6. Cơ chế sinh bệnh:
Từ những chỗ thâm nhập đầu tiên (niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp, hạch Amidan, niêm mạc mắt hay da bị xước, bị thương…) virus dịch tả lợn sinh sản ngay trong các mô liên kết và sau đó lùa vào mạch máu, di hành đến mọi nơi của cơ thể lợn. Trong quá trình di hành, chúng sản sinh ngay trong các tế bào nội mô của thành mạch máu, sau đó chúng được hấp thụ và bám dính trên bề mặt hồng cầu, tiếp tục các đợt di hành mới và gây ra hiện tượng nhiễm trùng huyết, lợn sốt. Sự sinh sảnvà phát triển của virus dịch tả lợn trong các tế bào nôi mô của thành mạch dẫn đến thoái hóa, co mạch, tắc mạch và gây ra hiện tượng xuất huyết, hoại tử ở rất nhiều cơ quan như lách, thận, hạch lâm ba, ruột, bang quang..
Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp lợn bị bệnh dịch tả luôn bị nhiễm trùng kế phát bởi các vi khuẩn thường trú trong cơ thể:
-   Khi bị bội nhiễm bởi vi khuẩn Pasteurella multocida thì luôn kèm theo các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, rõ hơn.
-   Khi bị bội nhiễm với Salmonella thì ngoài các biến đổi xuất huyết hoại tử trong các hạch lâm ba còn thấy viêm xuất huyết hoại tử ruột tạo ra các ổ loét hình xoáy trôn ốc gọi là Button của dịch tả và xen lẫn các ổ loét sâu có gờ trong ruột già.
Cả hai trường hợp bội nhiễm trên luôn là nguyên nhân làm cho lách sưng to, dai và rắn hơn bình thường.
Ngoài Salmonella và Pasteurella, lợn bị dịch tả cũng có thể bị bội nhiễm bởi vi khuẩn đóng dấu, tụ cầu, liên cầu, Clostridium, Bacterium pyocyaneum…
Một đặc tính mà virus dịch tả lơn gây ra nữa là giảm bạch cầu huyết từ 11.000- 21.000 xuống dưới 9.000/ml máu, phá hủy hồng cầu giải phóng hemoglobin và bilirubin gây vàng một số tổ chức, cơ quan.
Chưa hết, virus dịch tả lợn còn có khả năng thâm nhập vào bào thai làm chết bào thai ở lợn nái chửa hoặc lợn con sinh ra chết yểu hoặc sức sống kém. Hơn nữa những con lợn này lại mang mầm bệnh dịch tả lợn, do đó chúng là mối đe dọa nguy hiểm đến an toàn sinh học cho cả trại.

7.Triệu chứng bệnh:
- Thời kỷ ủ bệnh từ 2-6 ngày, rất ít khi quá 12 ngày.
- Bệnh có 5 thể biểu hiện

7.1. Thể quá cấp
Bệnh xảy ra với các triệu chứng điển hình của nhiễm trùng huyết: sốt cao 41-41,5 độ C, bỏ ăn, nằm run và lợn chết trong vòng 1-2 ngày.

7.2.Thể cấp tính
Các biểu hiện nhiễm trùng huyết giống thể quá cấp nhưng ở mức độ nhẹ hơn.
Lợn bị sối và thân nhiệt tăng từ từ. Từ 39 độ C lên 40.5 -41 độ C, rất ít khi vượt qua ngưỡng 41,5 độ C trừ khi bị bội nhiễm với vi khuẩn thứ phát. Trong thời gian thân nhiệt tăng lên cao như vây, lợn không có một biểu hiện ốm nào (vẫn ăn uống bình thường, đi lại, bài tiết có vẻ như bình thường).
Sau 1-3 ngày, khi thân nhiệt đạt đến 40.5- 41 dộ C ta mới quan sát thấy lợn tìm chỗ tối để nằm, run rẩy, khó thở, nhịp thở tăng, đôi khi còn nghe thấy chúng nghiến răng. Khi đó, nếu ta xua đuổi lợn thì thấy chusngcos các biểu hiện thần kinh, yếu phần sau,  chân bị cứng trong bước đi. Quan sát kỹ thấy chảy nước mắt, tiếp đến mắt đỏ lừ có dử (viêm mí mắt), mũi khô, tai và đuôi lạnh. Đặc biệt cần biết là khi bị bệnh dịch tả, lợn lạnh đều hai tai và lạnh bao nhiêu thì đuôi lạnh bấy nhiêu.
Khi cho lợn ốm ăn, ta thấy chúng vẫn ngoe nguẩy đuôi ra chậu cám để ăn, rất muốn ăn nhưng chỉ bóp bép vài miếng rồi bỏ đi, chúng không ăn cám mà chỉ thích ăn rau xanh hoặc thức ăn khác lạ.
Trong thời gian này, hầu hết các lợn ốm đều bị táo bón, phân có màng nhầy và có mùi đặc biệt. Tuy bị ốm, bỏ ăn nhưng lợn bệnh sút cân chậm, chúng bồn chồn, hay nghiến răng và tìm nơi yên tĩnh nằm run.
Sau đó, xuất hiên các nốt xuất huyết ở phần da mềm như vùng tai, bẹn, bụng và háng. Xuất huyết do dịch tả lợn thuần khiết thường ở gốc tai (nếu bị ghép với Salmonella tức là ghép phó thương hàn thì xuất hiên ở cả đỉnh, chỏm tai, rìa tai). Khi dùng ngón tay ấn mạnh để quan sát thì các nốt xuất huyết đỏ này nhanh chóng hồi phục sau vài giây tái nhợt. Đây là đặc điểm để phân biệt với đóng dấu lợn và tụ huyết trùng. Ít lâu sau, các nốt xuất huyết ở da chuyển sang màu đỏ thâm tím, hoại tử, tạo vẩy màu nâu.
Bệnh nặng dần lên, lợn ốm bắt đầu đi xiêu vẹo, lúc nghiêng bên này, lúc ngả bên kia. Một số con bắt đầu bị tiêu chảy, một số trường hợp còn thấy phân lẫn máu hoặc có màu thâm nâu cà phê, đuôi luôn thong và dính đầy phân. Lợn ốm chỉ nằm, bỏ ăn hoàn toàn và chết, tỷ lệ chết rất cao từ 80-100%.

7.3.Thể dưới cấp tính:
Ở thế dưới cấp tính các triệu chứng tập trung ở đường tiêu hóa và hô hấp.
- Triệu chứng sốt dần dần giảm và duy trì ở mức 40,5-40,8 độC, lợn ốm lúc ăn lúc không.
- Lợn bị táo bón nặng, phân cso màng nhầy hoặc lúc táo bón lúc ỉa chảy.
- Chảy nhiều nước mắt, gương mũi khô, tai và đuôi đều lạnh và tím ngắt.
- Lợn ho và khó thở, lưng con và đau khi thở hoặc đau khi chúng ta sờ nắn.
- Da khô và quăn, long xù, lợn gầy sút trông thấy.
- Trên da thấy các đám xuất huyết chuyển thành vảy màu nâu.
- Nếu bội nhiễm với phó thương hàn thì da tím tái, mép và rìa tai bị hoại tử loét.

7.4. Thể mãn tính
Bệnh kéo dài từ một đến vài ba tuần và luôn kèm theo bệnh kế phát do một số vi khuẩn như Pasteurella (gây tụ huyết trùng), Salmonella (gây phó thương hàn), Straptococcus (gây liên cầu lợn), Pyocyaneus (gây hoại tử da). Vì thế, ngoài các triệu chứng nhiễm trùng huyết thì các biểu hiện của thể mãn tính luôn kèm theo các triệu chứng viêm phổi và triệu chứng của bệnh thứ phát.
Lợn ốm xù long, giảm cân, lúc tiêu chảy, lúc táo bón kèm theo màng nhầy. Lợn ốm ăn uống thất thường, hay tìm chỗ tối để nằm, rúc đầu vào rơm rạ (chất độn), sốt nhẹ và ngắt quãng 40-40,5 độ C.
Bụng đói hóp hông, đi loạng choạng, xiêu vẹo, mắt có dử, thậm chí chảy mủ (ken mắt), tím tái mõm và tai, lạnh đều cả hai tai và đuôi. Đuôi buông thõng. Tiêm kháng sinh thì hết sốt, lợn thèm ăn, ngừng tiêm kháng sinh lại sốt nhẹ 40 độ C và lại bỏ ăn. Một số con gầy dần và chết do suy nhược, phần đông số còn lại dần dần khỏi bệnh và mang trùng, Lợn nái mang trùng thường bị sảy thai ở mọi thời kỳ trong thời gian chửa.

7.5.Thể không điển hình
Đây là dạng ẩn của dịch tả lợn, thường xảy ra ở các trại đã được tiêm phòng cho lợn con trước 30 ngày tuổi hoặc đã qua dịch một vài năm.
Các triệu chứng chủ yếu ở đàn nái là sảy thai, chết lưu thai, đẻ non hoặc chết yểu trong thời gian 3-4 tuần sau khi sinh.
Lợn con sinh ra từ những nái mang trùng này lúc đầu béo tốt, bú đều nhưng dần đàn chúng có các biểu hiện run rẩy, thiếu linh hoạt, chậm lớn, xù long, còi cọc và chết ở 4-5 tuần sau khi sinh. Lợn mẹ lúc đầu cũng tiết sữa bình thường, nhưng lúc ăn, lúc bỏ ăn, do sốt nhẹ và ngắt quãng nên không chăm con như nái bình thường.
Trong thực tế sản xuất ở Việt Nam, không ít trường hợp trong cùng một trại lợn có thể xuất hiện song hành hai thể bệnh dịch tả lợn cấp tính và không điển hình.

8. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt
Bệnh dịch tả lợn có thể chẩn đoán dễ dàng thông qua các dấu hiệu dịch tễ, lâm sàng, bệnh tích. Nếu cần thì có thẻ tiến hành gây bệnh thực nghiệm trên lợn, thỏ.
Các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm gồm: Xét nghiệm máu, Miễn dịch huỳnh quanh, Kết tủa trên thạch.
Bệnh dịch tả lợn cần phải phân biệt với các bệnh sau:
- Bệnh phí thương hàn
- Bệnh đóng dấu
- Bệnh tụ huyết trùng
- Bệnh giả dại

9. Điều trị:
Bệnh dịch tả là một trong 4 bệnh nguy hiểm nhất mà thế giới khuyến cáo không nên điều trị, nếu điều trị thì có một số lợn ốm khỏi bệnh, nhưng chúng sẽ mang trùng trong vòng 3 tháng và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng, Do đó, khi phát hiện ra dịch tả lợn cần phải tiêu hủy tận gốc.
Ở Việt Nam, do lợi ích kinh tế trước mắt nên có nhiều trang trại không tiêu hủy mà họ vẫn áp dụng biện pháp như sau:
- Tách lợn con theo mẹ nuôi cách ly và tiêm phòng cho chúng ngay sau khi được 35 ngày tuổi.
- Tiêm vắc xin chống dịch tả lợn cho tất cả lợn còn lại từ 35 ngày tuổi trở lên mà không phụ thuộc vào tình trạng lợn và chương trình tiêm phòng vắc xin trước đó.
- Tiêm kháng sinh và thuốc bổ cho những con lợn bị sốt từ 40 – 41,5 độ C và sau 3-4 ngày nếu không chuyển biến thì mới loại thải.
Chú ý: + Mỗi ô chuồng phải dùng một kim tiêm riêng.
         + Thuốc kháng sinh gồm những thuốc có phổ tác dụng rộng và điều trị tốt với phó thương hàng. Các loại kháng sinh đó là: Macavet, Flodonvet. TTS Năm Thái, Vidan.T…
         + Cần cung cấp thêm thuốc bổ như: T.cúm gia súc, Doxyvit hoặc Super vitamin.

10.Phòng bệnh:
Phòng bệnh dịch tả lợn gồm các bước sau đây:
- Vệ sinh thú y chặt chẽ.
- Cách ly, theo dõi, tiêm phòng dịch tả lợn đối với lợn mới mua về ít nhất 15 ngày trước khi nhập đàn. Chỉ nhập lợn khỏe không sốt, không có dử mắt, không bị viêm phổi..
- Tổ chức chăn nuôi trong trang trại hợp lý theo lứa tuổi và hướng chăn nuôi đã định, không nuôi chung lợn các lứa tuổi khác nhau.
- Đnh kỳ khử trùng tiêu độc bằng PVP.iodine, B.K.Vet, Virkon.S, Formol 1,5%...
- Tiêm phòng vắc xin dịch tả lần 1 cho tất cả lợn sau 1 tháng tuổi, tiêm nhắc lại lần 2 lúc 55-60 ngày tuổi. Sau đó cứ mỗi năm tiêm định kỳ hai lần vào tháng 4 và tháng 10 và không quên tiêm vắc xin bổ sung cho những lợn nái đẻ và con của chúng đến ngày phải tiêm theo chương trình phòng bệnh.
Việc khống chế dịch tả lợn sẽ thành công nếu chúng ta áp dụng đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh thú y và tiêm phòng chống dịch tả đúng quy trình cho mỗi đối tượng lợn.

nguon: toquoc.vn