Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Cách chọn giống và nuôi lợn nái sinh sản đặt năng xuất cao.

(Trang trại xanh )-Thâm canh tốt đàn lợn nái để tăng số lứa đẻ/năm, tăng số lượng và chất lượng lợn con trong một lứa, giảm số đầu con mà vẫn đảm bảo đủ số lợn nuôi thịt là rất cần thiết trong chăn nuôi lợn nái hiện nay.

Chọn giống
Để lợn nái sinh sản đạt năng suất cao, phải chọn những con giống tốt. Trước tiên phải chọn theo gia phả, những con sữa tốt, sai con, mau lớn… sẽ sinh sản ra đàn con, cháu mang những đặc điểm di truyền tốt kể trên. Sau đó, dựa vào ngoại hình để lựa chọn, lợn nái giống phải có ngoại hình cân đối, đòn dài, đùi to, mỡ lưng mỏng, mông lớn, bụng thon, vai nở, ngực sâu, bộ khung xương vững chắc, đi trên ngón, không đi trên bàn, móng chân đều chắc chắn, không có dị tật, không bị bọc mủ, viêm khớp. Da, lông mướt mịn. Mắt lanh lợi, không đổ ghèn. Khung xương vững chắc, không nứt móng. Bước đi nhanh nhẹn không khập khiễng, không tiêu chảy, không ho, hen, suyễn, thở gấp. Số vú 13 - 17, vú đều, khoảng cách giữa 2 hàng vú ngắn lộ ra các núm vú, dễ cho con bú. Theo dõi thấy lợn tăng trọng nhanh (trên 600 - 650 g/ngày).
Lợn nái có chất lượng tốt sẽ động dục lần đầu sớm (lợn ỉ, móng cái 3 - 4 tháng, lợn lai 6 - 7 tháng, lợn ngoại 7 - 7,5 tháng), khi động dục lần thứ hai trở đi mới cho phối giống (lợn ngoại trên 100 kg, lợn lai 60 - 80 kg, lợn ỉn, móng cái 45 - 50 kg). Khi lợn nái động dục quá muộn sẽ quá béo thường sinh sản kém, nên thải loại.
Những con lợn nái tốt sinh sản lần đầu được 8 - 10 con còn sống; trọng lượng 1,3 - 1,5 kg/con, ít con có trọng lượng dưới 0,8 kg. Trọng lượng cai sữa bình quân 5 - 8 kg (tùy theo cai sữa 21 ngày hay 28 ngày tuổi) số con cai sữa 8 - 9 con/ổ. Khi cai sữa, trọng lượng lợn nái giảm 8 - 10% so với trọng lượng khi đẻ ra 3 ngày; số ngày chờ phối lứa mới kể 5 - 7 ngày sau khi cai sữa; số con ở lứa đẻ sau có thể cao hơn lứa đầu 10 - 15% là con lợn nái tốt. Không chọn lợn phối 3 lần không đậu.

Thời điểm phối giống
Lợn nái đẻ nhiều con, ngoài chất lượng giống, độ tuổi và trọng lượng lên giống, ta phải chọn thời điểm phối giống thích hợp nhất. Chu kỳ phát dục của lợn là 21 ngày, khi phát dục lợn có biểu hiện bỏ ăn, buồn bực, phá chuồng, nhảy lên những con khác. Đối với lợn nái nuôi con thường phát dục sau khi tách con 1 - 7 ngày. Thời gian phát dục của lợn nái 3 - 5 ngày. Đối với lợn ỉn, lợn móng cái thời điểm phối giống thích hợp cuối ngày thứ 2, đầu ngày thứ 3, còn với lợn lai và lợn ngoại cuối ngày thứ 3, đầu ngày thứ 4. Hoặc khi quan sát thấy âm hộ chuyển từ sưng đỏ sang héo dần, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra thì đó là thời điểm phối giống tốt nhất, đậu thai nhiều nhất.

Chăm sóc, nuôi dưỡng
Trong thời điểm lợn mang thai 1 - 90 ngày, nhu cầu dinh dưỡng của lợn ít hơn giai đoạn 90 - 114 ngày. Ở giai đoạn I chỉ cho lợn nái ăn 2 - 3 kg/ngày, chia làm 2 lần sáng và chiều, để đảm bảo lợn vẫn đủ dinh dưỡng nhưng không quá béo. Đến giai đoạn II, tăng 25 - 30% lượng thức ăn để con đạt trọng lượng sinh sản cao. Bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sảy thai, vì vậy chỉ cho lợn ăn dưới 15% trong khẩu phần ăn.
Khi lợn có biểu hiện ăn ít, kêu rền, phá chuồng là lợn có biểu hiện sắp đẻ. Để lợn không mất nhiều năng lượng, nên lót ổ đẻ bằng rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào chuồng cho lợn nằm. Khi sắp sinh, lợn đi lại không yên, đi tiểu, đi phân nhiều lần, nên cần vệ sinh sạch sẽ, khô ráo để tránh nhiễm trùng cho lợn con và bộ phận sinh dục cho lợn mẹ sau khi sinh.
Lợn mẹ khi sinh cần đảm bảo thoáng mát, yên tĩnh, tránh sự ồn ào, tiếp xúc của người lạ, chó, mèo… làm lợn hoảng sợ, hung dữ dẫn đến lợn ngừng đẻ hoặc đẻ chậm, số lợn con chết lúc đẻ tăng. Ngay sau khi lợn đẻ xong, tiêm Terramycin, Tylan 50, Suanavil 5, liều lượng 10 cc/ngày, liên tục trong 3 ngày để phòng bệnh viêm tử cung cho lợn mẹ mà không ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa. Có thể tiêm kèm thuốc bổ khi tiêm kháng sinh để lợn mau phục hồi, kích thích lợn ăn nhiều, gia tăng lượng sữa cho lợn con.
Lợn mẹ chỉ sản xuất sữa đầu trong vòng 24 giờ sau sinh. Sữa đầu đậm đặc hơn sữa thường, nhiều chất dinh dưỡng, protein, đặc biệt là kháng thể của lợn mẹ truyền cho lợn con, giúp lợn con kháng bệnh tốt hơn. Nên cho lợn con bú nhiều lần một ngày, tránh hiện tượng lợn con không bú hết sữa. Sữa ứ đọng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhiễm, phát triển gây viêm vú, rối loạn tiêu hóa ở lợn con. Trong giai đoạn nuôi con, sức ăn của lợn mẹ giảm, trong khi nhu cầu dinh dưỡng cần phải cao hơn để tạo sữa, dễ dẫn đến hiện tượng thiếu dinh dưỡng để nuôi con. Vì vậy cần cho lợn mẹ ăn 3 - 4 lần/ngày, thức ăn tinh, nhiều dinh dưỡng.
Lợn con được 6 - 7 ngày tuổi, sau khi ăn no, rải những viên cám ăn thẳng (loại chuyên dùng cho lợn 7 - 15 ngày tuổi) ở những chỗ sạch sẽ, khô ráo để kích thích lợn tập ăn. Thời gian này, nên nhốt riêng lợn mẹ và lợn con, lợn con sử dụng cám ăn thẳng sau đó lại cho sang bú mẹ. Số lần bú mẹ/ngày giảm dần. Sau 15 - 20 ngày lợn con sẽ sử dụng tốt thức ăn. Lợn con được 21 ngày tuổi có thể tách mẹ, và chuyển lợn mẹ vào trạng thái nuôi vỗ, chuẩn bị phối giống và mang thai đợt tiếp theo.
>> Tập cho lợn con ăn sớm sẽ giúp cho lợn con tách mẹ sớm, bổ sung đủ năng lượng trong giai đoạn lợn được 5 tuần tuổi, lợn giống chất lượng tốt, ít bị rối loạn tiêu hóa, sức tăng trưởng tốt. Áp dụng phương pháp này có thể cho lợn nái sinh sản được 2,2 - 2,3 lứa/năm.
(Tổng hợp:theo người chăn nuôi)

Bệnh do vi khuẩn E.coli nguy hiểm đến mức nào trên gia cầm, cách phòng và điều trị.

 TNL-Vi khuẩn E.coli có nhiều chủng gây nhiều bệnh trên gia cầm như viêm đường tiêu hóa, nhiễm trùng huyết, viêm tụ tế bào bạch cầu, viêm màng bụng, viêm vòi trứng, viêm khớp… gây tổn thất lớn trong nghề chăn nuôi gia cầm.

Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn gram âm Escherichia Coli, đặc biệt là các chủng O1, O2, O76,… có các yếu tố bám dính và sinh độc tố gây ra. Thường là nhiễm khuẩn kế phát khi gia cầm bị stress hay nhiễm một số bệnh khác làm cho miễn dịch suy yếu, điển hình là hen và cầu trùng. Kế phát E.coli thường làm bệnh trở nên trầm trọng và gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi.

Phương thức lây truyền
Nếu là bệnh nguyên phát thì xảy ra ở gà, vịt, ngan, ngỗng từ mới nở đến 3 tuần tuổi nhưng chủ yếu là từ 2 - 10 ngày đầu sau nở. Nhưng nếu bệnh thứ phát thì xảy ra bất cứ lúc nào trong vòng đời gia cầm, thủy cầm. Bệnh có thể lây nhiễm theo chiều ngang qua đường hô hấp thông qua tiếp xúc với thức ăn, nước uống, phân hay dụng cụ chăn nuôi mang mầm bệnh. Bệnh cũng có thể lây nhiễm theo chiều dọc, khi gia cầm mái đẻ nhiễm vi khuẩn E.coli trong ống dẫn trứng lây truyền qua trứng vào phôi và có sẵn trong cơ thể gà con khi nở ra.

Triệu chứng
Bệnh có dấu hiệu không đặc hiệu. Chỉ có những biểu hiện không rõ ràng như sốt lúc đầu, sau giảm dần. Gia cầm bị bệnh thường xù lông, xệ cánh, ít vận động, mào thâm xám, ăn kém hoặc bỏ ăn. Khi bị nặng, gia cầm sinh tiêu chảy, phân loãng, vàng, xanh lẫn nhiều bọt khí, khó thở, nhịp thở tăng, chết nhanh, chết nhiều ở gà, ngan, ngỗng giai đoạn 2 - 15 ngày tuổi, sau 5 - 7 ngày phát bệnh.
Gà đẻ bị bệnh thường giảm ăn, giảm đẻ, gầy ốm và thường kèm theo chứng sưng khớp.
Trị bệnh E.coli ở gia cầm có thể dùng kháng sinh dưới dạng tiêm hoặc uống
Bệnh tích
Khi mổ thấy gia cầm bị bệnh có triệu chứng viêm màng bao tim, viêm màng bụng, viêm màng quanh gan làm cho bao tim đục, màng bụng có dịch viêm, quanh gan thường phủ một lớp màu trắng đục, nếu bị nặng thì cả 2 lá gan đều sưng đỏ và xuất huyết lấm tấm. Ngoài ra, gia cầm còn có biểu hiện viêm đường ruột, viêm túi khí. Ở gà, vịt, chim cút mái đẻ, ống trứng có biểu hiện mềm, giãn, thành mỏng và có thể chứa dịch viêm trong lòng ống trứng; có bệnh tích cục bộ ở vòi trứng, buồng trứng, ống dẫn trứng; viêm, hoại tử một phần hoặc toàn bộ buồng trứng, noãn hoàng có thể bị teo hoặc vỡ nát. Gà con bị bệnh thường có bệnh tích viêm rốn.

Phòng bệnh
Phương pháp phòng bệnh hiệu quả nhất luôn giữ cho chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát, thường xuyên phun thuốc sát trùng diệt mầm bệnh. Cung cấp đủ lượng thức ăn đảm bảo cho gia cầm nuôi theo từng giai đoạn phát triển.
Định kỳ 1 lần/tuần sát trùng, vệ sinh trứng ấp, máy ấp, khu chăn nuôi bằng 1 số thuốc sát trùng có tính an toàn cao không gây độc cho gia cầm như Virkon, liều lượng 10 g/4 lít nước, thuốc Longlife liều lượng 4 ppm, Farm Fluids 2,5 ppm. Hàng ngày vệ sinh máng ăn, máng uống, tránh để thừa thức ăn, ôi thiu tạo môi trường nhiễm bẩn.
Giữ chuồng trại luôn được khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và tránh mưa làm ẩm ướt chuồng, trại nuôi. Định kỳ bổ sung vitamin, thuốc bổ như Bcomlex, Betaglucan, chất điện giải vào nước uống cho gia cầm để tăng cường sức đề kháng tự nhiên, đặc biệt trong những giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi hoặc gia cầm bị stress do vận chuyển hoặc sau khi tiêm vaccine.
Bệnh E.coli có nhiều chủng gây bệnh trên gia cầm nên việc tiêm phòng vaccine thường kém hiệu quả.

Trị bệnh
Bệnh có thể điều trị bằng kháng sinh như Colistin, Kanamycin, Gentamycin, Norfloxacine… theo dạng tiêm hoặc pha vào nước uống theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Trong quá trình điều trị kết hợp sử dụng một số thuốc tăng cường sức khỏe như Bcomlex. Sau quá trình điều trị bệnh bằng kháng sinh có thể sử dụng một số chế phẩm vi sinh để cải thiện đường ruột cũng như khả năng tiêu hóa của gia cầm.
>> Vi khuẩn E.coli, thường có sẵn ở ruột gia cầm khỏe mạnh, trong môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm, khi thời tiết thay đổi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không tốt… sẽ tạo điều kiện cho E.coli phát triển và gây bệnh.
(Tổng hợp)

Mẹo trị đau răng hiệu quả ngay lập tức.

TNL-Đau răng thường xảy ra khi các chân răng bị kích thích. Nguyên nhân phổ biến nhất của đau răng là sâu răng, hư hỏng men răng hoặc sứt mẻ hay gãy răng. Đau cũng có thể xảy ra sau khi loại bỏ một chiếc răng nào đó. Trong khi không ai thích cảm giác đau răng, tin tốt là những cmar giác đau đớn và nhiễm trùng này có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng những phương pháp tự nhiên.
Gừng tươi
Trong củ gừng có chứa chất kháng viêm nên cũng có tác dụng cắt giảm cơn đau nhức. Dùng gừng tươi giã nát sau đó đắp trực tiếp lên vùng răng sâu và đau. Thực hiện phương pháp này ít nhất 2 lần/ngày để đảm bảo hiệu quả trị sâu và đau răng.
Ngoài ra, tỏi cũng có tính sát khuẩn giúp chữa lành các bệnh viêm nhiễm. Nghiền lát tỏi sau đó trộn thêm ít muối và đắp vào vùng răng bị đau, bạn sẽ nhận thấy cơn đau giảm dần.
Nước muối ấm chữa đau răng hiệu quả
Pha 1 chai nước muối (với nồng độ vừa phải) để ở nhà và 1 chai để ở nơi làm việc. Sau khi ăn nên đánh răng sạch sẽ ngay bằng kem đánh răng và súc miệng bằng nước muối nhiều lần trong ngày. Điều này sẽ khiến người bệnh cảm thấy dễ chịu ngay tức khắc và tạm thời không bị chứng đau răng hành hạ.
Dầu đinh hương
Tinh dầu đinh hương là một chất gây mê mạnh mẽ và vẫn được nhiều bác sĩ, nha sĩ ưa chuộng sử dụng trong nhiều năm. Song bạn vẫn nên sử dụng tinh dầu đinh hương một cách thận trọng nhé.
Để sử dụng tinh dầu đinh hương trực tiếp từ lọ, bạn có thể nhúng một tăm bông vào lọ tinh dầu này và sau đó cẩn thận chà xát tăm bông vào xung quanh khu vực răng bị đau nhức.
Đặc biệt, nếu bạn bị đau răng từ một dây thần kinh khi tiếp xúc. Trong trường hợp này, hãy cố gắng đặt miếng gạc vào trong khoang miệng có chứa dây thần kinh.
(Tổng hợp)

Hướng dẫn cách chế biến và sử dụng giun quế làm thức ăn cho vật nuôi.

TNL-Trong chăn nuôi bà con chúng ta ai cũng biết đến con giun quế với mục đích là sử dụng làm nguồn  thức ăn cho vật nuôi, nhưng không phải tất cả bà con ai cũng có thể biết cách chế biến và sử dụng thế nào cho hiệu quả. Sau đây chúng tôi xin hướng dẫn bà con cách chế biến và sử dụng giun quế làm nguồn thức ăn trong chăn nuôi một cách hiệu quả nhất.
a)    Sử dụng giun tươi:  
 Nếu nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng, chim, cá... thì cho ăn sống. Mỗi vật nuôi cho 5 - 7 con giun /ngày. Nếu nuôi lợn thì nên nấu chín hoặc chế biến thành bột trộn với cám. Khi thu hoạch lượng giun lớn thì nên làm sạch rồi chế biến thành bột giun, mắm giun, dịch giun. Làm sạch giun bằng cách cho giun vào chậu, rửa  2 - 3 lần rồi ngâm trong  nước sạch, 2 tiếng thay nước 1 lần, thay vài ba lần cho đến khi không thấy còn phân giun thải ra là được.


b)    Chế biến bột giun:   
Bột giun là loại thức ăn cao đạm, trên 70 % (cao hơn bột cá, đậu tương v.v..). Thức ăn cho gia súc, gia cầm làm từ giun có tới 53 – 65 %  chất đạm, 11 – 17 % chất đường bột, 7 – 32 % chất khoáng và hàm lượng chất béo khá cao. Ở một số nước, giá bột giun khá đắt. Nơi có điều kiện nuôi được nhiều giun, có thể làm bột giun dùng thay thế bột cá, bột thịt trong thức ăn hỗn hợp lợn, gà. Bột giun bổ sung vào thức ăn gia cầm, lợn 3 - 5 %.
     Cách làm bột giun như sau: Giun rửa sạch, để ráo, lấy cám trộn đều với giun theo tỉ lệ 1 kg cám cho 3 kg giun, rồi đem phơi hoặc rang sấy (phải trộn cám vì giun tiết ra nhiều chất nhờn). Khi giun đã khô giòn thì sàng bỏ cám, lấy giun rồi đem giã hoặc nghiền nhỏ thành bột, cho vào túi ni lông, đóng bao để bảo quản nơi khô ráo. Đem cám sàng bỏ cho gia súc, gia cầm ăn rất tốt.

      c) Làm mắm giun:  
      Giun sau khi làm sạch, trộn muối như muối mắm tép, sau vài ba tháng giun ngấu thành mắm. Cho lợn ăn mắm giun hàng ngày 15 - 20 g / con hoặc 2 ngày 1 lần 30 g / con.
      d) Làm dịch giun:  
      Sau khi làm sạch, giun được đem vào xử lý vi sinh để loại bỏ hoàn toàn một số nấm và vi khuẩn có hại, cũng như làm kích thích tăng trưởng một số vi khuẩn có lợi. Sau khoảng thời gian hợp lý, giun được lấy ra và trộn đều với một loại men Enzyme. Dịch giun Quế còn được xem như là một thức ăn bổ xung dưới dạng nước có thể thay thế hoàn toàn các loại như dầu mực, thức ăn bổ xung, vitamin C......và ngay cả các kháng sinh cần thiết để sản xuất con giống nuôi tôm, cá v.v…
      đ)Phân giun:  

     Sau khi thu hoạch ra khỏi chuồng ta đem phơi khô, cho vào bao hoặc đem ra sử dụng ngay cũng được. Bà con nuôi tôm, cá có thể dùng phân giun để xử lý nước cho ao tôm, cá rất hữu hiệu. Phân giun cũng có thểtrộn đều với cám ngô, cám gạo làm thức ăn cho gia súc, gia cầm rất tốt.
(Tổng hợp)

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Ngyên lý hoạt động của máy tuốt lúa liên hoan do người Việt Nam chế tạo.

 TNL-Số bằng sáng chế: 1-0006641; cấp ngày: 09/10/2007 tại Việt Nam; tác giả và chủ bằng: Phạm Hoàng Thắng; địa chỉ: 196 Lý Tự Trọng, phường An Cư, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
 
Sáng chế đề cập đến máy gặt đập lúa bao gồm khung (1) được lắp trên ít nhất ba bánh xe (3). 
 
Bộ phận cắt (6) có các dao cắt lúa và miệng cắt, được bố trí ở phía trước khung (1).
 
Guồng gạt lúa (8) đẩy cây lúa vào miệng cắt của bộ phận cắt (6) rồi gạt lúa về phía vít xoắn chuyển lúa (7). 
 
Vít xoắn chuyển lúa (7) thu lúa đã cắt đưa vào bộ phận chuyển lúa (9) để chuyển đến bộ phận đập tuốt lúa. Bộ phận đập tuốt lúa gồm buồng đập (12), bên trong có lô đập (14) quay trong sàng đập (13). Bên dưới buồng đập (12) có sàng dạng lưới (16), dưới sàng có thùng chứa hạt (17). Quạt (18) ở phía trước sàng (16), sau sàng là thùng chứa bông lúa đập sót (19). 
 
Vít xoắn chuyển hạt (20) đưa hạt từ thùng chứa hạt (17) vào bao đựng. Vít xoắn thu bông lúa đập sót (21) chuyển bông lúa đập sót từ thùng chứa (19) qua cửa (22) trở lại buồng đập (12). Cửa thoát rơm (24) được bố trí ở cuối buồng đập (12).
(tổng hợp)

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Kỹ thuật vườn ươm và các phương pháp nhân giống cây ăn quả

Bài viết của PGS. TS. Vũ Mạnh Hải - Viện phó Viện nghiên cứu Rau quả

I- KỸ THUẬT VƯỜN ƯƠM CÂY ĂN QUẢ
Vườn ươm là một bộ phận không thể thiếu được của ngành trồng cây ăn quả. Muốn có những vườn ươm cây ăn quả sinh trưởng khoẻ mạnh, năng suất, sản lượng cao, phẩm chất tốt, tính chống chịu cao phải có giống tốt và những cây giống tốt.
1- Chọn địa điểm thành lập vườn ươm
Khi chọn địa điểm thành lập vườn ươm, cần chú ý một số yêu cầu sau đây:
- Điều kiện khí hậu:
Vườn ươm phải đặt ở nơi có điều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của các chủng loại cây ăn quả cần nhân giống, tránh được các yếu tố thời tiết bất thuận như: giá rét, sương muối hoặc nhiệt độ quá cao.
- Điều kiện đất đai:
Khu đất xây dựng vườn ươm phải bằng phẳng, có độ dốc nhỏ hơn 5o và tiêu thoát nước tốt. Đối với các chủng loại cây ăn quả được gieo trồng trực tiếp trên nền đất, yêu cầu đất làm vườn ươm phải có kết cấu tốt, tầng canh tác dầy, màu mỡ, có khả năng giữ nước và thoát nước tốt.
- Nguồn nước tưới: có nguồn cung cấp đủ nước tưới tất cả các tháng trong năm, bảo đảm yêu cầu về chất lượng. Ngoài ra, vườn ươm phải đặt ở nơi có vị trí thuận lợi về giao thông, gần thị trường yêu cầu cây giống.
2- Quy hoạch và thiết kế vườn ươm
2.1. Các loại vườn ươm
Tuỳ theo nhiệm vụ và thời gian sử dụng mà có thể chia thành 2 loại vườn ươm:
- Vườn ươm cố định: là loại vườn ươm có thời gian sử dụng lâu dài, thực hiện cả 2 nhiệm vụ cơ bản của vườn ươm là chọn lọc, bồi dưỡng giống tốt và nhân nhanh, cung cấp đủ số lượng cây giống và cây giống có chất lượng cao cho sản xuất.
- Vườn ươm tạm thời: là loại vườn chủ yếu để nhân giống. Vườn ươm này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cung cấp giống cho sản xuất.
2.2. Quy hoạch và thiết kế vườn ươm cố định
Một vườn ươm nhân giống cây ăn quả cố định được chia thành các khu riêng biệt bao gồm:
* Khu cây giống: được chia thành hai khu vườn nhỏ.
- Vườn cây giống cung cấp vật liệu ghép: là vườn trồng các giống cây ăn quả để cung cấp vật liệu nhân giống cho vườn ươm như cành chiết, cành giâm và mắt ghép; vườn cây giống được thiết kế với khoảng cách trồng 3-5*3-5 (m) và quy mô diện tích được tính toán dựa trên số lượng cây giống vườn ươm cần sản xuất.
- Vườn cây giống cung cấp vật liệu làm gốc ghép: là vườn trồng các giống cây ăn quả cung cấp hạt (hoặc cành giâm) làm gốc ghép; vườn cây giống cung cấp vật liệu làm gốc ghép được thiết kế trồng với khoảng cách tương tự như vườn trồng sản xuất của từng chủng loại cây ăn quả tương ứng.
* Khu nhân giống.
Tuỳ theo quy mô, nhiệm vụ và khả năng sử dụng các phương pháp nhân giống của cơ sở, có thể chia khu nhân giống thành 5 khu nhỏ.
- Khu giâm cành: nhà giâm được xây dựng phải có hệ thống mái che mưa, điều chỉnh cường độ ánh sáng, có hệ thống lưới hoặc tường bao xung quanh, chủ động về nguồn nước tưới và có các thiết bị tưới ở dạng phun sương; trong nhà giâm được chia thành các luống, có hệ thống đường đi lại và có hệ thống tiêu thoát nước.
- Khu giâm lại cành chiết: khu giâm lại cành chiết cần có hệ thống mái che, vách che bằng các vật liệu phù hợp, có khả năng điều chỉnh cường độ chiếu sáng phù hợp với từng thời kỳ của cây giống; đất cần có kết cấu tốt, có khả năng tiêu thoát nước tốt.
- Khu gieo ươm cây gốc ghép: khu gieo cây ươm cây gốc ghép cần được thiết kế có mái; đất để gieo cây ươm cây gốc ghép phải có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp.
Khu gieo ươm cây gốc ghép cần được thiết kế có mái che bằng các vật liệu thích hợp, thời gian và mức độ che sáng phụ thuộc vào chủng loại cây ăn quả cần nhân giống.
- Khu ra ngôi và nhân giống:
Cây gốc ghép được đưa ra ngôi ghép và chăm sóc đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Các chủng loại cây ăn quả được nhân giống bằng gieo hạt cũng được gieo ươm hoặc ra ngôi chăm sóc tại khu này.
Cây giống được trồng trong túi bầu polyêtylen hoặc các vật liệu làm bầu thích hợp khác. Đối với các cây ăn quả có đặc tính rụng lá mùa đông, cây giống có thể được ra ngôi trực tiếp trên các luống đất.
- Khu đảo và huấn luyện cây con trước khi xuất vườn: là khu dùng để phân loại và áp dụng các biện pháp chăm sóc tối thiểu nhằm huấn luyện cây giống thích nghi dần với điều kiện đưa ra trồng sản xuất.
2.3. Quy hoạch và thiết kế vườn ươm tạm thời
Đối với vườn ươm nhân giống cây ăn quả tạm thời chỉ quy hoạch xây dựng khu nhân giống. Tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất của cơ sở, khả năng áp dụng các biện pháp nhân giống mà khu nhân giống được chia thành các khu tương tự như vườn ươm cây cố định hoặc chỉ bao gồm các khu: khu gieo ươm cây gốc ghép, khu ra ngôi và nhân giống, khu đảo cây và huấn luyện cây con trước khi xuất vườn.
Toàn bộ vật liệu ghép, hạt gốc ghép hoặc vật liệu khác làm gốc ghép được cung cấp từ vườn ươm cây giống của các vườn ươm cố định.

II- CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ

1- Phương pháp nhân giống hữu tính:
Phương pháp nhân giống hữu tính là phương pháp nhân giống bằng hạt.
* Những ưu điểm của phương pháp nhân giống bằng hạt.
- Kỹ thuật đơn giản, dễ làm.
- Chi phí lao động thấp, do đó giá thành cây con thấp.
- Hệ số nhân giống cao.
- Tuổi thọ của cây trồng bằng hạt thường cao.
- Cây trồng bằng hạt thường có khả năng thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh.
* Những nhược điểm của phương pháp nhân giống bằng hạt
- Cây giống trồng từ hạt thường khó giữ được những đặc tính của cây mẹ.
- Cây giống trồng từ hạt thường ra hoa kết quả muộn.
- Cây giống trồng từ hạt thường có thân tán cao, gặp khó khăn trong việc chăm sóc cũng như thu hái sản phẩm.
Do những nhược điểm như vậy nên phương pháp nhân giống bằng hạt chỉ được sử dụng trong một số trường hợp:
- Gieo hạt lấy cây làm gốc ghép
- Sử dụng gieo hạt đối với những cây ăn quả chưa có phương pháp khác tốt hơn.
- Dùng trong công tác lai tạo chọn lọc giống.
* Nhữngđiểm chú ý khi nhân giống bằng hạt.
- Phải nắm được các đặc tính, sinh lý của hạt: một số hạt chín sinh lý sớm, nảy mầm ngay trong hạt (hạt mít, hạt bưởi); một số hạt có vỏ cứng cần xử lý hoá chất, bóc bỏ vỏ cứng trước khi gieo (hạt xoài, hạt mận) và một số hạt khi để lâu sẽ mất sức nảy mầm (hạt nhãn, hạt vải).
- Phải đảm bảo các điều kiện ngoại cảnh cho hạt nảy mầm tốt: nhiệt độ, không quá thấp hoặc quá cao, độ ẩm đất đảm bảo 70 - 80% độ ẩm bão hoà và đất gieo hạt phải tơi xốp, thoáng khí.
- Phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước chọn lọc: chọn giống có khả năng sinh trưởng khoẻ, năng suất cao và phẩm chất tốt; chọn những cây mang đầy đủ các đặc điểm của giống muốn nhân; chọn những quả có hình dạng đặc trưng của giống; chọn những hạt to, mẩy, cân đối và chọn cây con to, khoẻ, sinh trưởng cân đối.
* Các phương pháp gieo hạt làm cây giống
- Gieo ươm hạt trên luống đất.
+ Đất gieo hạt phải được cày bừa kỹ, bón lót 50 - 70 kg phân chuồng hoai mục + 0,5 - 0,7 kg supe lân/100m2 và lên thành các luống cao 10 - 15 cm, mặt luống rộng 0,8 - 1,0 m, khoảng cách giữa các luống 40 - 50 cm.
+ Hạt được gieo thành hàng hoặc theo hốc với các khoảng cách tuỳ thuộc vào loại cây ăn quả, gieo ươm để lấy cây ra ngôi hoặc gieo trực tiếp lấy cây giống. Độ sâu lấp hạt từ 1 - 3 cm tuỳ thuộc vào thời vụ gieo và tuỳ thuộc vào hạt giống cây ăn quả đem gieo.
+ Các khâu chăm sóc phải được làm thường xuyên như: tưới nước giữ ẩm, nhổ cỏ, xới xáo phá váng, bón phân đặc biệt là theo dõi, phát hiện và phòng trừ bệnh kịp thời. Bón thúc bằng nước phân chuồng pha loãng 1/10 - 1/15 hoặc các loại phân vô cơ pha loãng 1%.
- Gieo ươm hạt trong bầu
Phương pháp gieo ươm hạt trong túi bầu được sử dụng cho cả phương pháp nhân giống bằng hạt và gieo ươm cây gốc ghép cho nhân giống bằng phương pháp ghép. Hạt giống được gieo trực tiếp vào túi bầu tiêu chuẩn hoặc gieo vào túi bầu nhỏ rồi tiến hành ra ngôi sau. Hạt giống thường được xử lý và ủ cho nứt nanh mới tiến hành gieo. Hỗn hợp bầu đang được sử dụng là đất + phân chuồng hoai mục với tỷ lệ là 1 m3 đất mặt + 200 - 300 kg phân chuồng hoai mục + 10 - 15 kg supe lân. Các khâu kỹ thuật chăm sóc được tiến hành tương tự như phương pháp gieo ươm hạt trên luống đất.
2- Các phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả
Phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả là phương pháp mà thông qua các cách làm khác nhau tạo ra những cây hoàn chỉnh từ những phần riêng biệt ở cơ quan sinh dưỡng của cây mẹ.
2.1. Phương pháp chiết cành
Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi ta tiến hành khoanh vỏ, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì dễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài.
* Những ưu điểm của phương pháp chiết cành
- Cây giống giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ.
- Cây sớm ra hoa kết quả, rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản.
- Thời gian nhân giống nhanh.
- Cây trồng bằng cành chiết thường thấp, phân cành cân đối, thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch.
* Những nhược điểm của phương pháp chiết cành
- Hệ số nhân giống không cao, chiết nhiều cành trên cây sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mẹ.
- Đối với một số giống cây ăn quả, dùng phương pháp chiết cành cho tỷ lệ ra rễ thấp.
* Phương pháp tiến hành
- Cành chiết được lấy trên các cây giống đã được chọn lọc ở thời kỳ sinh trưởng khoẻ, cây có năng suất cao, ổn định và không có sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Chọn những cành có đường kính từ 1 - 2 cm ở tầng tán giữa và phơi ra ngoài ánh sáng, không chọn cành na, cành dưới tán và các cành vượt.
- Dùng dao cắt khoanh vỏ với chiều dài khoanh vỏ bằng 1,5 - 2 lần đường kính gốc cành. Sau khi bóc lớp vỏ ngoài, dùng dao cạo sạch phần tượng tầng đến lớp gỗ.
Sau khi khoanh vỏ1 - 2 ngàythì tiến hành bó bầu. Đất bó bầu gồm 2/3 là đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ + 1/3 là mùn cưa, rơm rác mục, xơ dừa... tưới ẩm, bọc bầu bằng giấy potyêtylen và buộc kín hai đầu bằng lạt mềm.
Sau 60 - 90 ngày, tuỳ thuộc vào thời vụ chiết, cành chiết rễ. Khi cành chiết có rễ ngắn chuyển từ màu trắng sang màu vàng ngà là có thể cắt cành chiết đưa vào vườn ươm.
Thời vụ chiết thích hợp cho đa số các chủng loại cây ăn quả là vụ xuân và vụ thu.
2.2. Phương pháp giâm cành.
Giâm cành là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp tương tự như nhân giống bằng phương pháp chiết cành.
* Những ưu điểm của phương pháp giâm cành.
- Giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ.
- Tạo ra cây giống sau trồng sớm ra hoa kết quả.
- Thời gian nhân giống nhanh.
- Có thể nhân nhiều giống mới từ một nguồn vật liệu giới hạn ban đầu.
* Những nhược điểm.
Đối với những giống cây ăn quả, nhất là những giống kho ra rễ, sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết để có thể khống chế được điều kiện nhiệt độ, ẩm độ  và ánh sáng trong nhà giâm.
* Phương pháp tiến hành.
Đối với các cây ăn quả dạng gỗ cứng, có rụng lá mùa đông, thường lấy cành giâm khi cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ. Đối với các cây ăn quả gỗ mềm, không rụng lá thường lấy cành giâm vào mùa sinh trưởng.
Nền giâm được sử dụng là cát khô, than bùn, xơ dừa hoặc là nền đất tuỳ thuộc vào điều kiện giâm cành, thời vụ giâm, chủng loại giống và loại cành giâm khác nhau.
Cành giâm được chọn ở giữa tầng tán tương tự chọn cành chiết, chiều dài hom giâm thích hợp từ 15 - 20 cm. Đối với những cành giâm lấy vào mùa sinh trưởng nên để lại trên hom giâm từ 2 - 4 lá.
Để tăng khả năng ra rễ của cành giâm, có thể nhúng phần gốc hom giâm vào dung dịch chất điều tiết sinh trưởng như: a NAA, IBA, IAA ở nồng độ 2000 - 4000 ppm trong vài giây hoặc ngâm phần gốc hom giâm vào các dung dịch trên ở nồng độ 20 - 40 ppm trong thời gian 10 - 20 phút.
Sau khi giâm cần tưới ướt bề mặt lá thường xuyên ở dạng phun sương để tránh thoát hơi nước gây rụng lá. Khi cành giâm có một đợt lộc mới ổn định sinh trưởng và có đầy đủ rễ  thì tiến hành ra ngôi và chăm sóc cây cho đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn.
Giai đoạn từ giâm cho tới khi có rễ và lộc mới ổn định cần được tiến hành trong nhà giâm, khi ra ngôi cần chọn thời điểm có điều kiện thời tiết thuận lợi hoặc ra ngôi trong điều kiện có mái che.
2.3. Nhân giống cây ăn quả bằng phương pháp ghép
Cơ sở khoa học của phương pháp là khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau.
* Những ưu điểm của phương pháp ghép
- Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc ghép.
- Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân.
- Hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể sản xuất được nhiều cây giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất.
- Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ.
- Tăng cường khả năng chống chịu của cây với điều kiện bất thuận như: chịu hạn, chịu úng, chịu rét và sâu bệnh.
- Thông qua gốc ghép có thể điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép.
- Cókhả năng phục hồi sinh trưởng của cây, duy trì giống quý thông qua các phương pháp ghép như: ghép nối cầu hay ghép tiếp rễ.
* Yêu cầu của giống gốc ghép
- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng khoẻ có khả năng thích ứng rộng với điều kiện địa phương.
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép.
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu sâu bệnh và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ ở gốc cây con.
* Những yêu cầu kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn
- Chăm sóc cây con trước khi ghép: sau khi ra ngôi cần áp dụng đầy đủ các quy trình khác của kỹ thuật chăm sóc để cây gốc ghép sớm đạt tiêu chuẩn ghép. Trước khi ghép 1 - 2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt.
- Chọn cành, mắt ghép tốt: cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân. Cành ghép được chọn ở giữa tầng tán, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Tuổi cành ghép chọn phù hợp tuỳ thuộc vào thời vụ ghép khác nhau. Trong điều kiện cần vận chuyển đi xa, cần bảo quản trong điều kiện đủ ẩm, tránh nhiệt độ cao.
- Chọn thời vụ ghép tốt: trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta, đa số các giống cây ăn quả được tập trung ghép vào vụ xuân và vụ thu.
- Thao tác kỹ thuật ghép: đây là khâu kỹ thuật có tính chất quyết định, phụ thuộc vào sự thành thạo của người ghép. Các thao tác ghép cần được tiến hành nhanh và chính xác.
- Chăm sóc cây con sau khi ghép: tất cả các khâu kỹ thuật từ mở dây sau ghép, xử lý ngọn gốc ghép, tỉa mầm dại, tưới nước làm cỏ, bón phân, tạo hình cây ghép cho tới công tác phòng trừ sâu bệnh hại cần được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật.
* Các phương pháp ghép:
+ Tuỳ thuộc vào mục đích áp dụng, từng đối tượng cây ăn quả mà có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Một số phương pháp ghép chủ yếu đang được áp dụng để nhân giống cây ăn quả được chia thành hai nhóm là ghép mắt và ghép cành.
+ Nhóm các phương pháp ghép mắt.
- Phương pháp ghép mắt cửa sổ.
Phương pháp ghép mắt cửa sổ thường được áp dụng với các chủng loại cây ăn quả dễ bóc vỏ, có thân cành dễ lấy mắt, mắt ghép lớn.
Trên gốc ghép, cách mặt đất 25 - 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở vết ghép có dạng cửa sổ và bóc bỏ phần vỏ. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt một phần khoanh vỏ có chứa mầm ngủ với kích thước tương tự hoặc nhỏ hơn vết mở trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép.
Sau ghép 15 - 20 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.
- Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ
Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ được áp dụng để nhân giống hồng, các cây ăn quả có múi và một số chủng loại cây ăn quả khác.
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở gốc ghép có dạng hình lưỡi của gốc ghép. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt lấy mắt ghép dạng hình lưỡi có một phần gỗ tương tự như trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép. Trường hợp mắt ghép nhỏ hơn so với vết mở trên gốc ghép thì đặt mắt ghép lệch về một bên để có ít nhất một phía tượng tầng được trùng khớp.
Sau ghép 20 - 25 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.
+ Nhóm các phương pháp ghép cành
- Phương pháp ghép áp
Phương pháp ghép áp được áp dụng chủ yếu để nhân giống trồng với số lượng nhỏ hoặc áp dụng với những cây ăn quả khó nhân giống bằng các phương pháp khác.
Trên cành ghép và gốc ghép, mở vết cắt có kích thước tương tự nhau, dài từ 8 - 10 cm, áp hai vết cắt vào nhau và cuốn kín lại bằng dây nilon, dùng dây buộc cố định của gốc ghép trên thân cây chọn cành ghép. Sau ghép khoảng 1,5 - 2 tháng, tiến hành cởi dây ghép và cắt ngọn của gốc ghép. Sau đó khoảng 7 - 10 ngày, cắt tiếp phần gốc của cành ghép và tạo được cây giống hoàn chỉnh.
- Phương pháp ghép cành bên
Phương pháp ghép cành bên được sử dụng trong trường hợp cây gốc ghép khó bóc vỏ để sử dụng các phương pháp ghép khác hoặc ghép trong mùa khô.
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, mở vết cắt tương tự như phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ nhưng có kích thước từ 2 - 3 cm. Trên cành ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài, có kích thước tương tự như vết mở trên gốc ghép, giữ lại 2 - 3 mầm ngủ. Cài cành ghép vào vết mở của gốc ghép và dùng dây nilon cuốn kín lại. Cuốn dây nilon từ dưới lên trên và cố định dây cuốn lần thứ nhất khi cuốn kín vết cắt, sau đó tiếp tục cuốn dây một lượt lên trên và cố định dây ghép. Sau ghép 20 - 25 ngày, tiến hành cởi dây ghép đến vị trí cố định dây lần 1 và sau 1 - 2 ngày thì cắt ngọn gốc ghép. Khi cây có 1 - 2 đợt lộc ổn định thì cắt tiếp phần còn lại của dây ghép.
- Phương pháp ghép đoạn cành
Phương pháp ghép đoạn cành được sử dụng để nhân giống hầu hết các đối tượng cây ăn quả thân gỗ.
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, tiến hành cắt ngọn gốc ghép (có giữ lại một vài lá gốc). Chọn cành ghép có đường kính tương tự với đường kính gốc ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài 2 - 2,5 cm, có 2 - 3 mầm ngủ. Chẻ một vết trên gốc ghép có chiều rộng và sâu tương tự với kích thước của vết cắt trên cành ghép. Cài cành ghép vào gốc ghép sao cho ít nhất có một phía tượng tầng được trùng khớp và dùng dây nilon mỏng cuốn lại.
Trước hết cuốn nhiều vòng dây để cố định cành ghép vào gốc ghép, sau đó trải rộng dây nilon và cuốn kín một lượt xung quanh cành ghép, đưa dây nilon trở lại cố định dây tại gốc ghép. Sau ghép 15 - 20 ngày, mầm ghép bắt đầu mọc xuyên qua dây cuốn, tiến hành các biện pháp chăm sóc cây con sau khi ghép.
- Phương pháp ghép nêm.
Phương pháp ghép nêm được sử dụng cả nhân giống trong vườn ươm và ghép cải tạo  vườn cây ăn quả.
Trên gốc ghép, cắt bỏ toàn bộ thân tán ở vị trí phù hợp, chọn cành ghép và cắt cả hai phía tạo thành hình chiếc nêm. Chẻ đôi gốc ghép và cài cành ghép sao cho phần tượng tầng phía ngoài của gốc ghép và cành ghép được trùng khớp với nhau. Dùng dây nilon cuốn chặt cố định cành ghép với gốc ghép và cuốn kín cành ghép để chống thoát hơi nước. Sau khi cành ghép bật lộc, có 1 - 2 đợt lộc ổn định sinh trưởng thì tiến hành cắt bỏ dây ghép. Sau đó áp dụng các biện pháp chăm sóc cây sau ghép như các phương pháp ghép khác.
- Phương pháp ghép sửa chữa thân và sửa chữa rễ
Các phương pháp ghép này được sử dụng khi cần nối phần vỏ bị tổn thương của cây hoặc cải tạo bộ rễ cây đã bị gây hại.
Đối với phương pháp ghép sửa chữa thân, sử dụng các đoạn cành của cùng giống cây ăn quả ghép nối lại phần vỏ qua vị trí bị tổn thương. Trên cành ghép, cắt tạo vết cắt tương tự như mở vết cắt của phương pháp ghép cành bên nhưng dài từ 3 - 5 cm ở cả hai đầu của đoạn cành. Trên thân cây, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài cành ghép vào thân cây và cuốn kín lại bằng dây nilon. Khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.
Đối với phương pháp ghép sửa chữa rễ, tiến hành trồng các cây gốc ghép xung quanh gốc cây cần ghép sửa chữa, cắt ngọn gốc ghép tạo vết cắt tương tự như đoạn cành của phương pháp ghép sửa chữa thân, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài vết cắt của gốc ghép vào thân cây và cuốn kín vết ghép bằng dây nilon khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.
(Tổng hợp)

Kinh nghiệm ghép quả trên cây có múi.

Mục đích: Phân bố lại số quả trên cây cho hài hòa, tạo điều kiện cho cây phát triển cân đối, khắc phục được hiện tượng trên cùng một cây, có cành mang quá nhiều quả, lại có cành quá ít quả đồng thời tạo ra quả có sự đồng đều cao hơn, từ đó tăng hiệu quả kinh tế cho vườn cây. Mặt khác nhờ ghép lại quả mà chúng ta có thể dồn lại số quả ở những cây ít tập trung ghép cho một số cây nhất định, từ đó phân loại cây, xây dựng kế hoạch chăm sóc và bảo vệ từng lô cây khác nhau, tránh được sự đầu tư dàn trải, giảm chi phí vật tư. Ngoài ra còn có thể rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản cho vườn cây. Riêng đối với những cây ăn quả, trồng để tạo cảnh thì cùng với việc ghép phân bố lại số quả trên cây cho cân đối, đẹp mắt người ta còn có thể ghép nhiều loại quả khác nhau trên cùng một cây theo thị hiếu tiêu dùng làm, tăng giá trị thẩm mỹ, tăng giá trị sử dụng của cây lên rất nhiều lần.

Nguyên lý: Chỉ có thể ghép được các nhóm cây cùng chi trong họ như các giống cam ghép lên nhau, các giống bưởi ghép lên nhau, quất có thể ghép lên cam, bưởi; cam ghép lên quýt, bưởi và ngược lại bưởi có thể ghép lên cam… tùy theo mục đích sử dụng mà chúng ta lựa chọn các đối tượng quả và cây ghép khác nhau và chỉ nên ghép các quả có giá trị kinh tế cao hoặc các cây ăn quả làm cảnh như: Cam Canh, cam Vinh, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, Hoàng Trạch… vì chi phí công ghép tương đối cao. Cây để sử dụng ghép quả có thể đã hoặc đang cho khai thác quả hoặc chưa khai thác quả lần nào.
Thời vụ ghép: Với cam Canh, cam Vinh, quýt, bưởi Diễn có thể cho phép ghép từ cuối tháng 6-8 bưởi Phúc Trạch, Hoàng Trạch có thể bắt đầu ghép từ đầu tháng 4-5, khi các quả trên cây phát triển ổn định, đường kính quả từ 1,8-2,5 cm đối với cam quýt và 4-5 cm đối với bưởi là thời điểm ghép là tốt nhất, tiến hành ghép vào ngày quang mây, nắng nhẹ, không mưa, không có gió tây. Trong ngày nên ghép vào thời gian mà trong vườn khô sương (khoảng 8-16h).
Kỹ thuật ghép: Bộ phận để ghép là cuống quả với các cành nhánh của cây. Về nguyên tắc có thể ghép theo nhiều phương pháp: Ghép chẻ bên, ghép áp, ghép nêm đều được cả, tuy nhiên thông thường với các cây có múi, ghép áp bên là tốt nhất, xác suất sống sau ghép cao, dễ ghép, thao tác đơn giản và năng suất ghép cao. Trước ghép vườn cây cần được phòng trừ sạch sâu bệnh hại, nhất là các đối tượng: Sâu vẽ bùa, nhện đỏ, nhện trắng, rệp nâu, rệp muội, rệp sáp, rầy chổng cánh và các bệnh loét quả, chảy nhựa…, cây ghép cần lựa chọn các cây khỏe, không sâu bệnh.
 Trên cây các cành cấp 1, cấp 2… khỏe có nhiều cành nhánh có thể ghép nhiều quả hơn ngược lại cành yếu ghép ít quả hơn, nhưng với cây làm cảnh thì tùy theo dáng, thế đã tạo trước mà bố trí ghép quả cho phù hợp. Quả cắt, hoặc mua ở các vườn tỉa quả khác để ghép phải không có mầm bệnh, quả còn tươi, nguyên cả cuống, yêu cầu để cuống dài 3-7 cm hoặc 10 cm, nếu kỹ thuật ghép thành thục thì để cuống 3-5 cm là tốt nhất, còn để cuống quả dài 7-10 cm là phòng, vết cắt ghép lần đầu hỏng phải cắt lại. Yêu cầu quả cắt đến đâu ghép ngay đến đó, nếu để lâu cuống quả mất nước có thể coi như hỏng quả đó không sử dụng để ghép được. Khi ghép nên lựa chọn cành ghép là các cành bánh tẻ, không chọn các cành quá già hoặc quá non, cành ghép và cuống quả ghép phải có kích thước tương ứng, có nghĩa độ lớn cành ghép và cuống ghép là tương đương.
- Cách ghép áp bên: Sử dụng dao ghép chuyên dụng, dao phải luôn sắc, bén ngọt, nhẹ nhàng nâng quả trong lòng bàn tay (tuyệt đối không để quả rụng khỏi cuống), dùng một ngón tay làm điểm tỳ cho cuống quả tay kia dùng dao cắt vát đầu cuống, chiều dài vết vát khoảng 1,5-2 cm tùy, tương ứng ở cành ghép ta cũng cắt vát đầu cành với chiều dài vết vát tương đương, tiếp đó ghép cuống ghép và đầu ghép khớp nhau qua vết cắt vát, sử dụng nilon ghép chuyên dụng (loại có chất lượng cao: bền, dai, trong suốt) quấn chặt vết ghép. Yêu cầu: 2 vết vát thật phẳng, đặt lên nhau phải trùng khớp, thao tác nhẹ nhàng, nhanh, gọn, chắc chắn. Trong quá trình ghép hai bàn tay phải luôn khô ráo, vì nếu tay ướt dính sang vết cắt thì vết ghép sẽ không tương hợp. Với cách ghép này, một công lao động thành thục trong ngày có thể ghép được 150-200 quả.
Chăm sóc cây sau ghép quả: Cây sau ghép quả cần được che nắng bằng lưới nilon đen chuyên dùng khoảng 20-25 ngày, mục đích hạn chế nắng, gió làm mất nước ở quả ghép và cuống ghép, ảnh hưởng tới tỷ lệ sống sau ghép, vườn cây ghép cần được giữ ẩm bình thường như các vườn đang cho quả khác, nếu vườn ẩm quá hoặc hạn quá đều ảnh hưởng tới năng suất, đặc biệt chất lượng của quả sau này.
 Cây sau ghép 4-6 tuần khi vết ghép đã liền nhau chắc chắn thì tháo nilon ghép ở cành ghép, tăng cường bón thúc phân hữu cơ, vô cơ và phân vi sinh, tốt nhất sử dụng hạt ngô đỏ, đậu tương, và super lân ngâm ủ hoai mục pha loãng để tưới thúc hoặc hỗn hợp bột ngô, bột đậu tương, super lân ủ nóng trong điều kiện yếm khí cho hoai mục bón thúc vào rãnh đào theo hình chiếu tán cây rồi phủ kín đất, đồng thời theo dõi phòng trừ kịp thời các đối tượng sâu bệnh hại.
Lưu ý: Thay vì sau ghép che lưới đen lên tán cây chống thoát hơi nước ở quả ghép, ta có thể đơn giản bằng cách: Trước ghép dùng dây nilon ghép bao kín quả và phần cuống quả ngoài phạm vi ghép, sau 35-40 ngày cành ghép và quả ghép sinh trưởng bình thường thì tháo nilon ra cho quả phát triển nhanh.                            

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Bí quyết cơ bản trồng và chăm sóc dâu tây sai quả

TNL-Dâu tây là một trong những loại  trái cây mang hương vị hấp dẫn nhất, vị Dâu là một trong những vị có mặt trong hầu hết các loại thực phẩm. Nếu muốn thưởng thức những trái dâu tây do chính tay mình trồng và đêm tặng người thân, bạn cần nắm được những bí quyết để trồng và chăm sóc Dâu tây ra thật nhiều trái.

Cây dâu tây với những trái chín đỏ mọng không chỉ có giá trị về mặt dinh dưỡng mà còn là loài cây trồng làm cảnh rất đáng yêu. Là loại cây thân thảo, leo bò, chúng ta có thể trồng Dâu Tây trong thùng xốp hoặc ngay trên các chậu treo. Chứng kiến cây Dâu Tây phát triển từ lúc còn bé xíu cho đến khi sai quả trĩu trịt chắc chắc chắn sẽ là trải nghiệm vô cùng thú vị và mang lại nhiều khoảnh khắc đáng nhớ.
Dưới đây là những hướng dẫn tỉ mỉ để trồng và chăm sóc Dâu tây trong chậu, chúc bạn sẽ sớm thưởng thức được những trái dâu chín đỏ mọng trong mùa thu đông sắp tới.
Bước 1: Lựa chọn hạt giống dâu tây như thế nào?
- Lựa chọn hạt giống dâu tây chất lượng có tỷ lệ nảy mầm cao ( tốt nhất lên lựa chọn những hạt giống còn hạn sử dụng, bao bì vẫn còn nguyên, không rách, ẩm…)
- Nếu chọn giống dâu tây chọn cây từ 10 – 15cm cây chắc khỏe, không sâu bệnh, cây phát triển đều.
- Nên chọn mua hạt giống  dâu Úc, Nhật và New Zealand vì những loại này chịu được nhiệt độ cao, thích hợp với khí hậu Việt Nam. Không nên mua hạt giống dâu Mỹ vì khả năng đậu quả rất thấp.
Trồng và chăm sóc dâu tây
Bước 2: Đất trồng dâu tây
- Nếu có điều kiện có thể mua đất hữu cơ, nhiều  dinh dưỡng về trồng cây sẽ phát triển tốt nhất
- Lựa chọn đất thịt nhẹ, sạch,đất trồng cần giữ ẩm tốt và thoát nước tốt tránh ngập úng
- Trồng trong chậu 20 cm là thích hợp nhất
Trồng và chăm sóc dâu tây
Bước 3: Gieo hạt
- Qua 2 bước trước tiến hành gieo hạt vào đất sạch và ẩm. Chậu hay khay đựng hạt cần được để khô ráo thoáng mát, có nắng tốt. Tưới nước một ngày một lần vào buổi chiều tối.
- Vi là loài cây ôn đới, dâu tây thích hợp nhất là trồng khi thời tiết bắt đầu vào mùa thu, tầm tháng 9 – tháng 10, lúc này nhiệt độ vừa phải, ấm áp và ít mưa. Sau khoảng 2 tháng nếu thuận lợi có thể bắt đầu thu hoạch những trái cây chín mọng đầu tiên.
Trồng và chăm sóc dâu tây
Bước 4: Chăm sóc cây dâu tây 
- Dâu tây là loại cây ưu ẩm nển chỉ cần nắng một buổi là đủ. Để cây phát triển tốt nhất là trồng ở nơi nào chỉ có nắng trực tiếp vào nửa ngày. Vì thế dâu tây rất được ưa chuộng trồng trong chậu treo để ban công.
- Tưới nước cho cây 2 lần vào sáng và chiều khi hết nắng. Tưới đều ẩm đất, sử dụng các loại nước sạch tránh nguồn nước mương suối dễ gây sâu bệnh, tránh tưới nhiều nước đất úng làm chết cây.
- Khi chuyển từ khay ươm sang chậu/luống để trồng cây sẽ có hiện tượng héo rũ do rễ bị đứt nếu chuyển không khéo. Trong 2 đến 3 ngày đầu nên che nắng cho cây, tưới nước đều cây sẽ phát triển bình thường trở lại.
- Thường xuyên xới đất cho đất được tơi xốp thoáng cây.
- Để cây dâu sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.
- Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bout những nụ, hoa, trái dị dạng và sâu bệnh. Thường xuyên tỉa tót các lá già sâu bệnh.
- Trong thời gian cây phát triển cần thường xuyên bón phân cho cây bằng một số loại phân hữu cơ hoặc phân lân, ka li…
Trồng và chăm sóc dâu tây
Thu hoạch quả khi các mắt đầy đặn, lớp vỏ tươi sáng và chuyển sang màu đỏ.
(Tổng hợp)